Giải mã một số địa danh ở Thành phố Hồ Chí Minh

Sương Nguyệt Anh hay Sương Nguyệt Ánh?
Thật ra, đề Sương Nguyệt Anh là đúng. Nguyên ban đầu chỉ có hai chữ Nguyệt Anh (con gái thứ 5 của cụ Nguyễn Đình Chiểu có sắc đẹp và tài làm thơ) đến sau ngày chồng qua đời bà thêm chữ Sương tức "người đàn bà góa chồng" đứng trước để thành biệt hiệu Sương Nguyệt Anh. Bà làm chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn năm 1918 là tờ Nữ giới chung (tiếng chuông của giới nữ). Cũng có bạn viện lẽ lâu nay người dân quen gọi rồi thì Anh với Ánh cũng không sao. Nói thế chưa ổn, vì tên cha mẹ đặt cho, hoặc bút hiệu của chính các tác giả chọn lấy, người sau cần phải tôn trọng không được sửa đổi tùy ý, dầu là theo "thói quen" lâu ngày.
Một số trường hợp viết sai như trên cũng được các nhà văn, nhà nghiên cứu như Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa đề cập đến, hoặc đã được nêu lên trong những công trình biên soạn về Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh mấy chục năm qua.
Gần đây nhất, trong bộ sách nhiều tác giả: Hỏi đáp về Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh do NXB Trẻ in quý II/2006 gồm 6 tập, TS Quách Thu Nguyệt chủ biên, có nêu rõ một số tên đường bị viết sai: Kha Vạn Cân (Thủ Đức), Trần Khắc Chân (Phú Nhuận), Trương Quốc Dung (Phú Nhuận), Hồ Huấn Nghiệp (Q.1) và cho rằng: "viết đúng phải là: Kha Vạng Cân, Trần Khát Chân, Trương Quốc Dụng, Hồ Huân Nghiệp".

Hàng Xanh hay Hàng Sanh?
Bây giờ đến các địa danh như ngã ba Hàng Xanh, chợ Hàng Xanh, gốc tích tên gọi này từ đâu có? Nhiều người giải thích do ngày trước dân cư chưa đông đúc, nhà cửa đường sá chưa mọc lên dày đặc, vùng này vốn trồng nhiều cây xanh sát nhau, lên xanh um kéo dài từ nút giao thông Hàng Xanh hiện nay đến tận chợ Bà Chiểu nên được gọi nôm na là "hàng xanh", sau thành địa danh chính thức.
Nhưng theo các nhà nghiên cứu địa danh học và sách đã dẫn trên phải viết Hàng Sanh mới đúng. Là vì, ngày trước vùng này trồng rất nhiều cây có tên Sanh, mà Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của cho biết Sanh là "một loại cây da, lá nhỏ" trồng dọc hai bên đường ở khu vực trên nên gọi Hàng Sanh.

Gò Vấp hay Gò Vắp?
Còn Gò Vấp thật ra là Gò Vắp nguyên là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây này thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP.HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương gần đó.

Rạch Ông hay Rạch Ong?
Rạch Ông (Q.8) với tên gọi Rạch Ông lớn và Rạch Ông nhỏ, thật ra là Rạch Ong (rạch có nhiều ong đến làm tổ). Địa danh này trong các cuốn sách cổ như Gia Định thành thông chí và Đại nam nhất thống chí đều dịch sang chữ Hán là Đại Phong Giang và Tiểu Phong Giang (phong nghĩa là con ong).

Chí Hòa?
Chí Hòa được người Pháp viết là Kihoa, đến khi người Việt xem tài liệu của người Pháp lại đọc thành... Kỳ Hòa!

Cát Lái hay Các Lái?
Hiện có một số nơi gắn liền với tên gọi Cát Lái như: ngã ba Cát Lái, bến phà Cát Lái, phường Cát Lái (Q.2) hoặc sông Cát Lái, rạch Cát Lái lớn, rạch Cát Lái bé (Cần Giờ).
Theo các nhà nghiên cứu viết như thế là vô nghĩa. Nguyên các vùng kể trên ngày xưa các lái buôn tụ về buôn bán nên dân gian gọi là vùng của các lái. Vì vậy đúng ra viết Các Lái mới có nghĩa.

Rạch Chiếc hay Rạch Chiết?
Qua khỏi cầu Sài Gòn có Rạch Chiếc, sách đã dẫn cho viết như thế không đúng, mà phải viết là Chiết (t thay vì c), vì xưa rạch này có nhiều cây chiết là "thứ cây mọc hoang, thấp nhỏ, lá lớn, hay mọc hai bên mé sông, thường ra lá non, mùi chát chát có thể ăn như rau". Trường hợp viết và đọc sai về Rạch Chiếc cũng tương tự như địa danh Cát Lái trên.

Một số địa danh khác...
Hóc Môn:
Theo PGS.TS Lê Trung Hoa, trong địa danh Hóc Môn, chữ hóc là âm cổ của hói, chỉ dòng nước nhỏ, môn là cây môn nước, hàm nghĩa là dòng nước nhỏ có nhiều cây môn mọc quanh.

Văn Thánh:
Địa danh Văn Thánh (Bình Thạnh) là do khu ấy Tổng trấn Gia Định thành là Lê Văn Duyệt cho xây miếu Văn Thánh (là miếu thờ ông Thánh về văn hóa tức Khổng Tử) để khuyến khích việc học hành.

Ký Thủ Ôn:
Địa danh Ký Thủ Ôn (Q.8) lấy tên một người Hoa thường gọi: Ký Thông. Ông tham gia kháng chiến, hoạt động bí mật trong chính quyền Sài Gòn, giả vờ hợp tác với Ngô Đình Diệm và tử trận trong khi giao chiến với quân Bình Xuyên.

Bến Dược:
Địa danh Bến Dược có hai giả thuyết. Thuyết thứ nhất cho rằng xuất phát từ cái bến của quân giải phóng dùng vượt qua sông Sài Gòn thời chống Mỹ. Thuyết thứ hai cho là vùng này chuyên trồng cây thuốc Nam nên dùng từ dược để gọi. Sau này người ta tìm được địa danh xóm Bà Dược. Dược là tên một người phụ nữ, nên cái bến tại xóm này chắc ban đầu mang tên bến Bà Dược, sau rút gọn: Bến Dược, và thành tên vùng Bến Dược.

Mả Lạng:

Mả Lạng có dạng gốc là Mả Loạn. Những ngôi mộ bỏ hoang, những cái giếng không dùng nữa thì gọi là mả loạn, giếng loạn. Khu dân cư tại phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, có trên 10 ngôi mộ không ai chăm sóc nên gọi là khu mả loạn, bị nói và viết chệch thành Mả Lạng. Tại thành phố Phan Thiết cũng có một khu mang tên này.


Mả Ngồi:

Mả Ngồi là một ở xã Bình Trị Đông, huyện Bình Chánh; một ở xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi. Theo người địa phương, tại xã Thái Mỹ có một ngôi tháp của vị tu sĩ Cao Đài, phái Chiêu Minh cách đây trên 60 năm, khi viên tịch ở tư thế ngồi nên đạo hữu và đồng bào chôn ông cũng ở tư thế ấy.


Chợ Đuổi:
Chợ Đuổi (Q.3) là dạng viết sai chính tả của chợ Đũi. (Trong Sổ tay địa danh Việt Nam, 2005, Đinh Xuân Vịnh cũng viết nhầm). Đũi là thứ hàng dệt bằng tơ gốc, mặt hàng thô. Chợ Đũi đầu tiên ra đời đầu thế kỷ 19 tại phường Phạm Ngũ Lão, quận 1 nay, sau dời về góc đường CMT8 và Võ Văn Tần, quận 3.


Sông Thị Nghè:
Về nguồn gốc tên sông Thị Nghè, ta có hai tuyến khác nhau:
Thứ nhất Bà Nguyễn Thị Khánh, con gái Khâm sai Nguyễn Cửu Vân (thời chúa Nguyễn Phúc Chu, 1691-1725) và là vợ của ông Nghè làm thư ký trong dinh Phiên Trấn, cho xây mộy cây cầu dài bắt qua sông để chồng tiện đi làm việc và cũng để dân chúng sử dụng. Cầu nầy được dân gọi Bà Nghè, sau đổi thành Thị Nghè.
Thứ hai bà Thị Nghè (vợ một ông Nghè) tổ chức các toán dân Pháp đánh quân Pháp. Khi giặc chiếm Sài Gòn, cho một tàu nhỏ đổ quân lên bờ liền bị nghĩa quân của Thị Nghè đánh dữ dội. Sau bà hy sinh trong một trận đánh. Dân chúng đặt tên sông, cầu và vùng Thị Nghè từ đó.

Kinh Ruột Ngựa:
Kinh Ruột Ngựa do quan Nguyễn Hữu Đàm cho đào vào mùa Thu năm Nhâm Thìn (1772), phá một đường sình lầy để đào con kinh thẳng như ruột ngựa, nên gọi là "Mã Trường Giang", giúp cho thuyền bè đi lại được thuận lợi hơn.
(Nguồn tổng hợp)

Read More...

Đình Bình Khánh - Phường Bình Khánh, quận 2

1. Vị trí, Lịch sử
Từ khi Thống suất Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh Hiếu Minh hoàng đế ( Chúa Minh Nguyễn Phước Chu) lập xứ Sài Gòn mùa xuân năm Mậu Dần 1698, dụng dinh Phiên trấn, đặt chức Lưu thủ, Cai bạ, Ký lục để quản trị từ hữu ngạn sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ, đất Quận 2 (vùng Thủ Thiêm xưa) nghiễm nhiên trở thành… ngoại ô.
Cái tên Bình Khánh, có lẽ xuất hiện trong khoảng năm 1757- 1862, khi đó vùng đất này thuộc tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên rồi huyện Bình An, tổng An Bình với 7 xã thôn. Cùng với đình An Khánh, đình Bình Khánh có lẽ cũng được hình thành rất sớm (theo Ban Quý tế Hội Đình Bình Khánh thì đình được tạo dựng trước năm 1850) cách nay đã hơn 150 năm, trải qua khoảng 7, 8 thế hệ, chứng kiến nhiều thăng trầm của vùng đất mới phía Nam.
Năm 1947, đình bị quân Pháp đốt phá. Những lính người Việt trong lực lượng bố ráp của Tây khiêng long ngai, khám thờ, bàn thờ, liễn đối… bỏ ra ngoài sân rồi mới đốt đình. Sắc thần cũng bị thất lạc trong thời gian này. Đến năm 1955, sau hiệp định Genève, người dân địa phương trở về làng cũ mới góp sức dựng lại đình. Đợt trùng tu mới đây nhất là vào giữa năm Quý Mùi 2003.
Trong đợt tổng điều tra di tích năm 1999 của Sở Văn hoá Thông tin TP. Hồ Chí Minh, đình Bình Khánh đã được xếp vào Danh mục cần được bảo vệ.

2. Hiện trạng đình
Đình hiện tại chiếm một diện tích không lớn trên thửa đất ngày xưa. Hiện nơi đình toạ lạc là Ap Bình Khánh, xã Bình Khánh, nằm trên đường Lương Định Của, cách ngã tư Lương Định Của- Trần Não, đi về hướng ngã ba Giồng, khoảng 200 mét. Cổng Tam quan dựng ngay mặt đường, xây năm Đinh Sửu (3-1997), đắp hai câu liễn bằng chữ Quốc ngữ. Theo Tam quan đi chừng 20 mét là tới đình.
Sau năm 2003, đình được trùng tu khang trang, đẹp đẽ và vẫn giữ được dáng vẻ xưa. Ngoài Cổng đình còn hai câu liễn: Bình an, thạnh vượng, do tâm nguyện; Khánh sinh lễ nghĩa, gia đình thạnh. Trong cổng cũng có hai câu: Phú quý, vinh hoa, tài lộc tiến; Đình kiến nhân dân chúng hiệp công (chữ công viết thành chữ lực hay thực sự trước đây người khắc muốn viết lực?).
Võ ca mới nằm đối diện với chánh điện. Bên ngoài chánh điện nhìn uy nghi với mái ngói có những đầu đao hình rồng. Trên mái là lưỡng long tranh châu hoặc lưỡng long chầu nguyệt . Các bao lam nội điện cũng sử dụng cách trang hoàng này.
Ngoài cửa còn 4 bức liễn, hai chạm khắc tinh xảo, hai có đề: Sử nghệ thư lâm lược đắc Thánh hiền tinh sự nghiệp; Thiên niên âm chất đô do Tổ đức tích nhân cơ . Gian trước thờ Quan thánh Đế quân (Quan Công) rồi đến hai hàng Lỗ bộ, mã, hạc và rùa. Bên hữu (từ ngoài nhìn vào) thờ Tiền hiền Hậu hiền, bên tả thờ Bạch mã Thái giám, nhị vị Công tử. Nội điện kiến trúc noi theo lối cũ, kiểu Tứ trụ với bốn cột tròn, đắp nổi hình rồng, đà đều giả gỗ, tạo nét rêu phong, phân làm ba và đều có bao lam tinh tế. Hai bên thờ Tả ban và Hữu ban (nhưng không hiểu sao lại bố trí Hữu ban ở Thanh long, Tả ban ở Bạch hổ?). Giữa là Bàn thờ Thần, Long ngai được tôn lên cao, chạm trỗ tinh xảo.
Đình còn có thêm một gian bên thờ Tiên sư. Mới tạo lại sau này. Hiện nay, cứ từ 16- 18 tháng Ba âm lịch đình thiết Đại lễ Kỳ yên. Đây là dịp người địa phương, khách thập phương, các Ban Quý tế ở nhiều nơi về viếng đình Bình Khánh.
Nhìn chung, đình Bình Khánh là một điểm tham quan du lịch có cái để du khách thưởng ngoạn khi đến với Quận 2 TP. Hồ Chí Minh.
(Nguồn UBND Q.2)

Read More...

Đình An Phú - Phường An Phú, quận 2

1. Vài nét về đình An Phú:
Đình An Phú có vị trí tại tổ 24, ấp 3, phường An Phú, quận 2, Đình An Phú là ngôi đình cổ xưa của Làng An Phú được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 19, cách nay khoảng 250 năm, trải qua nhiều lần trùng tu và sửa chữa, nhưng quy mô và kiểu dáng đình An Phú vẫn mang kiến trúc cổ xưa và tín ngưỡng dân gian miền quê Nam Bộ. Vị thần chính của đình là Thành Hoàng Bổn Cảnh. Ngoài ra đình còn thờ Quan Thánh, Đông trù tư mạng, Cửu thiên Huyền nữ, Sơn lâm chúa tể đại tướng quân, Thần Nông, Tiền hiền, Hậu hiền, Ngũ hành Nương Nương, bà Phan Thị Đỏ và các chiến sỹ hy sinh ở xã An Phú. Mỗi năm ban quý tế đình đều có tổ chức lễ Kỳ yên vào ngày 10-11-12 tháng 2 âm lịch. Đình An Phú là cơ sở cách mạng suốt 2 thời kỳ chống Thực Dân Pháp và chống Đế Quốc Mỹ xâm lược, là trạm thông tin liên lạc đưa rước cán bộ, nơi dừng chân của các lực lượng võ trang Thủ Đức và Sài Gòn, liên tục đánh phá địch ngay sát Sài Gòn và đưa vũ khí vào nội thành chuẩn bị cho cuộc đánh lớn vào Sài Gòn trong dịp tết Mậu Thân năm 1968.
Đình An phú đã được công nhận Di tích lịch sử cấp Thành phố tại Quyết định số 5515/QĐ-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2006 của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về xếp hạng di tích cấp Thành phố đối với di tích lịch sử Đình An Phú tại ấp 3, phường An Phú, quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đình An Phú trong 2 thời kỳ chống Thực Dân Pháp và Chống Đế Quốc Mỹ:
Ngay từ đầu thành lập chính quyền cách mạng là Thôn Bộ Minh đóng trụ sở tại đình An Phú năm 1946-1947, nơi đây thường diễn ra các lớp bình dân học vụ trong làng và là nơi họp mặt quần chúng nhân dân phát động phong trào đấu tranh chống Thực Dân Pháp.
+ Trong thời kì
kháng chiến chống Thực Dân Pháp năm (1945-1954):
Đình An Phú trở thành nơi quy tụ những thanh niên yêu nước của Làng An Phú. Đó là những thanh niên hưởng ứng phong trào thanh niên tiền phong, người đứng đầu là Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch- đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước ngày khởi nghĩa tháng 8/1945 Thanh niên tiền phong công khai tuyên bố là thành viên của mặt trận Việt Minh. Tổ chức thanh niên tiền phong xã An Phú do đồng chí Huỳnh Văn Ngởi chỉ huy, tổ chức thành lực lượng quân sự cướp chính quyền tại địa phương. Khi Pháp tái chiếm, bộ phận này là đội cảm tử do đồng chí Ba Kỉnh chỉ huy tham gia mặt trận Gồng Ông Tố. Đình An Phú còn là nơi đóng quân của đội quân cảm tử và củng cố lực lượng gia nhập vào bộ đội”Thái Văn Lung”, đơn vị bộ đội nổi tiếng Sài Gòn-Gia Định do Luật sư Thái Văn Lung một trí thức yêu nước lãnh đạo. Ngoài ra còn rất nhiều đơn vị chọn đình làm trạm liên lạc, tập trung quân, vũ khí như: Ban tình Báo, Ban sưu tầm vũ khí CL300, đơn vị quyết tử 3824, biệt động đội 2766, đơn vị vũ trang 92, đơn vị sưu tầm 306, Công an Tân Bình và còn nhiều đơn vị khác củng trú đóng tại Đình.
+ Trong thời kỳ kháng chiến chống Đế Quốc Mỹ (1954-1975):
Thời kỳ này các đồng chí cán bộ cách mạng của xã An Phú ở lại tiếp tục hoạt động, dưới sự đùm bọc của nhân dân. Đình An Phú lại tiếp tục trở thành cơ sở cách mạng, trước khi vào xóm hoạt động các đồng chí ghé ngang qua đình nắm bắt tình hình, nhưng địch thường xuyên rình rập theo từng bước chân các đồng chí cách mạng. Đặc biệt trong đợt tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968, Bộ chỉ huy mặt trận cánh Đông Bắc Sài Gòn đặt trạm thông tin liên lạc tại đình An Phú, nhiều thương binh trong chiến dịch này cũng được đưa về đình An Phú săn sóc trước khi đưa về căn cứ. Đình An Phú còn là nơi xuất phát của đơn vị D4, đơn vị này do đồng chí Tư Kia chỉ huy đột nhập đánh chiếm các mục tiêu quân sự của địch ở cầu Tân Cảng.
(Nguồn Phòng VH-TT-TT Q2)

Read More...

Thác Giang Điền (Trảng Bom - Đồng Nai)

Thác Giang Điền đã có từ rất lâu, cái tên Giang Điền gắn liền với tên của đơn vị hành chính địa phương là xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Trước đây, Giang Điền là khu khai thác đá tự do của người dân địa phương, xung quanh dòng thác là những mảnh đất hoang hoá, lồi lõm, lau, sậy mọc um tùm, hoang sơ bao phủ cả một khu vực rộng lớn, quanh năm nắng bụi mưa lầy.
Dòng thác Giang Điền bắt nguồn từ Cẩm Mỹ, Long Thành. Từ những dòng suối nhỏ chảy quanh co nối vào thành sông Buông rồi tiếp tục đổ ra sông Đồng Nai. Giang Điền, cái tên nghe sao thân thương lại nằm giữa vùng đất khô cằn đầy sỏi đá, phải làm gì đó cho Giang Điền? Với những ý tưởng đầy sự lãng mạn và sáng tạo, buổi sơ khai hai vợ chồng ông Lê Kỳ Phùng quyết định dùng số tiền đã tích góp từ nhiều năm để đầu tư xây dựng thác Giang Điền thành một Khu du lịch sinh thái, nơi con người hòa mình cùng thiên nhiên.
Đầu năm 2003 sau khi được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt dự án Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền, Công ty bắt tay vào việc khai khẩn với diện tích ban đầu 67,5 hecta đất hoang hóa. Vừa khai khẩn xây dựng, vừa bảo dưỡng bởi Giang Điền có một thác nước nguyên vẹn, tự nhiên, một phong cảnh thiên nhiên thơ mộng và hùng vĩ hiếm hoi chỉ cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 48km. Ngày tháng trôi qua, Khu du lịch đã dần hình thành. Những con đường lát đá mang dáng dấp của đấu trường La Mã, những kỳ hoa dị thảo khắp mọi miền đất nước đã được hội tụ về đây đua nhau khoe sắc. Biến vùng đất hoang vắng mưa lầy nắng bụi ngày xưa thành một Khu du dịch sinh thái an lành màu mỡ và sống động. Ngọn thác Giang Điền trở nên hùng vĩ hơn, lộng lẫy hơn bên cạnh một thảm thực vật phong phú, đa dạng cùng với những dịch vụ được sắp xếp khéo léo. Tất cả tạo nên một sự hài hòa tuyệt diệu giữa thiên nhiên và con người.
Ngày 29/01/2006 (nhằm ngày mùng một Tết Bính Tuất 2006) Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền chính thức mở cửa đón du khách, từ đó đến nay Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền đã được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến. Trong suốt quá trình hoạt động, Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền từng bước không ngừng hoàn thiện các loại hình dịch vụ phù hợp với không gian xanh, mang đậm nét sinh thái và không ngừng cải tiến chất lượng phục vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.
Trong thời gian sắp tới, Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền tiếp tục mở rộng Khu du lịch trên 118,42 hecta, xây dựng thêm những công trình vui chơi giải trí, khu resort nghỉ dưỡng, trung tâm thương mại, sân golf, khu đô thị sinh thái,… và nhiều công trình kiến trúc khác, cũng như không ngừng cải thiện chất lượng phục vụ để đáp lại tình cảm, sự quan tâm và tín nhiệm của các đồng nghiệp, của người dân nơi đây và của du khách trên mọi miền đất nước.
(Nguồn KDL thác Giang Điền)

Read More...