Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long

Nằm ở vùng Ðông Bắc Việt Nam, vịnh Hạ Long là một phần vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Ðồn. Phía tây nam Vịnh giáp đảo Cát Bà, phía đông là biển, phần còn lại giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km, được giới hạn từ 106o58' - 107o22' kinh độ Ðông và 20o45' - 20o50' vĩ độ Bắc với tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Ðảo của vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía tây nam (thuộc vùng vịnh Hạ Long) có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm. Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long. Vùng Di sản thiên nhiên được thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Ðầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam), đảo Cống Tây (phía đông) vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng năm 1962.

Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh khổng lồ vô cùng sống động. Ði giữa Hạ Long, ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hoá đá, đảo thì giống hình một người đang đứng hướng về đất liền (hòn Ðầu Người), đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng), đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Ông Lã Vọng), hòn Cánh Buồm, hòn Cặp Gà, hòn Lư Hương... Tất cả trông rất thực, thực đến kinh ngạc. Hình dáng những đảo đá diệu kỳ ấy biến hoá khôn lường theo góc độ ánh sáng trong ngày và theo góc nhìn. Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Ðầu Gỗ, động Sửng Sốt, động Tam Cung... Ðó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian. Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là kỳ quan đất dựng giữa trời cao. Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc với những địa danh nổi tiếng như Vân Ðồn - nơi có thương cảng cổ nổi tiếng một thời (1149), có núi Bài Thơ ghi bút tích của nhiều bậc vua chúa, danh nhân, xa hơn chút nữa là dòng sông Bạch Ðằng - nơi đã từng chứng kiến hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của cha ông ta chống giặc ngoại xâm.. Không chỉ có vậy, Hạ Long ngày nay được các nhà khoa học chứng minh là một trong những cái nôi của con người có nền văn hoá Hạ Long từ Hậu kỳ đồ đá mới với những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Ðồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng... Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới... Với hàng ngàn loài động, thực vật vô cùng phong phú trên rừng dưới biển, cá, mực... Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.

Với những giá trị đặc biệt như vậy, ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, vịnh Hạ Long chính thức được công nhận là Di sản thiên nhiên, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

I. Hang Ðầu Gỗ

Giữa non nước mây trời Hạ Long tuyệt mỹ, một chiếc hang mang tên vô cùng mộc mạc dân dã: hang Ðầu Gỗ. Hang nằm trên đảo Ðầu Gỗ, xưa đảo này có tên là đảo Canh Ðộc. Sách Ðại Nam Nhất thống chí có ghi "Hòn Canh Ðộc lưng đảo có động rộng rãi có thể chứa vài ngàn người, gần đó có hòn Cặp Gà, Hòn Mèo, Hòn La..." Sở dĩ gọi là hang Ðầu Gỗ, theo truyền thuyết xưa kể rằng: Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, Trần Hưng Ðạo đã cho chuẩn bị nhiều cọc gỗ lim ở đây để cắm xuống lòng sông Bạch Ðằng, có rất nhiều mẩu gỗ còn sót lại vì vậy động mang tên là hang Ðầu Gỗ. Từ phía xa nhìn lại, cửa hang có màu xanh lam hình một con sứa biển, qua 90 bậc đá xây ta tới cửa động. Nếu động Thiên Cung hoành tráng khoẻ khoắn, hiện đại thì hang Ðầu Gỗ trầm mặc uy nghi nhưng cũng rất đồ sộ. Cuốn Meivelle de Monde (kỳ quan thế giới) của Pháp xuất bản năm 1938 chuyên về du lịch giới thiệu về các danh thắng nổi tiếng thế giới đã mệnh danh hang Ðầu Gỗ là Grotto des meivellis (động của các kỳ quan). Ðiều đó hoàn toàn chính xác. Hang được chia làm ba ngăn chính. Ngăn phía ngoài có hình vòm cuốn tràn trề ánh sáng tự nhiên, trần hang là một bức "tranh sơn dầu" khổng lồ, trong đó vẽ phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, đó là những đàn voi đang đi kiếm ăn, những chú hươu sao ngơ ngác, chú sư tử lim dim ngủ... với những tư thế vô cùng sinh động. Phía dưới là một chú rùa đang bơi giữa bể nước mênh mông, những rừng măng đá, nhũ đá nhiều mầu với nhiều hình thù kỳ lạ tuỳ theo trí tưởng tượng phong phú của từng người. Ðứng dưới vòm hang ta có cảm giác như đang đứng giữa một toà lâu đài cổ kính, có lối kiến trúc đồ sộ và hùng vĩ. Chính giữa lòng hang là một cột trụ chống trời khổng lồ, hàng chục người ôm không xuể, từ phía dưới chân cột lên trên được bàn tay điêu khắc tài tình của tạo hoá gọt rũa thành những hình mây bay, rồng cuốn, phượng múa, hoa lá, dây leo... Trên đỉnh cột, bất giác ta bắt gặp một vị tu sĩ mặc áo choàng thâm, tay phải cầm gậy tích trượng trong tư thế tụng kinh, niệm Phật. Qua ngăn thứ 1, vào ngăn thứ 2 bằng một khe cửa hẹp. ánh sáng chiếu vào đây mờ ảo, những bức tranh mới lạ hiện lên long lanh huyền bí. Những chùm hoa đá lúc ẩn lúc hiện, những hình ảnh vừa quen thuộc vừa lạ,... tạo cho con người vừa sợ sệt vừa tò mò. Tận cùng hang là một chiếc giếng tiên bốn mùa nước ngọt trong vắt, chảy tràn trề quanh năm. Bất giác ta nhìn lên phía trên trong ánh sáng mờ ảo, ta nhận ra bốn xung quanh là bức thành cổ, trên đó đang diễn ra một trận hỗn chiến kỳ lạ, những chú voi đang gầm thét, người và ngựa chen chúc, gươm giáo mọc tua tủa, tất cả đang ở trong tư thế xông lên và bỗng dưng bị hoá đá chốn này. Năm 1917, vua Khải Ðịnh lên thăm hang Ðầu Gỗ, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thần tiên của tạo hoá, ông đã cho khắc một tấm văn bia với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của non nước Hạ Long và hang Ðầu Gỗ. Hiện nay, tấm bia đá vẫn còn ở phía bên phải cửa động.

Hang Sửng Sốt

Nằm ở khu vực trung tâm của Di sản thế giới vịnh Hạ Long, động Sửng Sốt trong đảo Bồ Hòn. Người Pháp đặt cho động cái tên grotto les suprices (động của những sửng sốt). Ðây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long. Mặt khác động nằm ở vùng trung tâm du lịch của vịnh Hạ Long (bãi tắm Ti Tốp - hang Bồ Nâu - động Mê Cung - hang Luồn - động Sửng Sốt) và đây cũng là nơi tập trung nhiều đảo đá có hình dáng đặc sắc không nơi nào có được. Ðường lên động Sửng Sốt luồn dưới những tán lá rừng, những bậc đá ghép cheo leo, du khách vừa có được cái thú của người leo núi, vừa có cái háo hức như đang đi lên trời vậy. Ðộng được chia làm hai ngăn chính, toàn bộ ngăn một như một nhà hát lớn rộng thênh thang. Trần hang được phủ bằng một lớp "thảm nhung" óng mượt, vô số những "chùm đèn treo" bằng nhũ đá rực sáng long lanh, những tượng đá, voi đá, hải cẩu, mâm xôi, hoa lá... tất cả dường như đang chuyển động trong một thế giới huyền ảo như thực như mơ. Chưa hết ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thần kì của tạo hoá, ta bước vào ngăn II bằng một con đường nhỏ. Một luồng ánh sáng ùa vào rực rỡ, động mở ra một khung cảng mới hoàn toàn khác lạ, ngăn động rộng mênh mông có thể chứa được hàng ngàn người, ngay cạnh lối ra vào là một chú ngựa đá và một thanh gươm dài. Truyền thuyết xưa kể rằng, sau khi đánh tan giặc Ân, Thánh Gióng đã giúp dân chúng ở đây đánh đuổi yêu ma, khi dẹp xong Thánh Gióng bay về trời và để lại thanh gươm và con ngựa quý để trấn an dân chúng, xua đuổi yêu quái. Hiện nay trong hang còn nhiều hình ảnh tự nhiên dường như là những dấu tích của trận chiến ác liệt đó, vết chân ngựa Gióng trở thành những ao hồ nhỏ xinh xinh cùng nhiều tảng đá to lớn vỡ vụn. Ði vào trong cảnh trí còn lắm điều kỳ lạ, như nhũ đá, cây đa cổ thụ tán lá xum xuê, chú gấu biển, khủng long... Tới đỉnh cao nhất của động, bất ngờ một khu "vườn thượng uyển" mở ra trước mắt, có hồ nước trong vắt, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, muôn loài cây như si, vạn tuế, đa cổ thụ cùng nhiều loài chim sinh sống. Những ngày đẹp trời, từng đàn khỉ kéo nhau xuống đây tìm hoa quả ăn làm náo động cả một vùng.

Hang Trinh Nữ - Hang Trống
Hang Trinh Nữ nằm trên dãy đảo Bồ Hòn cùng với hệ thống động Sửng Sốt, hồ Ðộng Tiên, Hang Luồn... Cách Bãi Cháy 15 km về phía Nam. Với người dân đánh cá, họ coi hang Trinh Nữ là ngôi nhà thân yêu của họ, còn những đôi trai gái yêu nhau lại coi đây là biểu tượng, nơi thề nguyện của tình yêu. Người Pháp xưa đặt cho hang cái tên Le virgin (động của người con gái). Truyền thuyết xưa kể rằng: Xưa có một người con gái vạn chài xinh đẹp, nhà nghèo, gia đình cô phải đi làm thuê cho tên chủ cai quản vùng đánh cá. Thấy cô xinh đẹp, hắn ép gia đình cô gả cô làm vợ bé cho hắn, cô không chịu vì cô đã có người yêu, chàng trai đó đang ra khơi đánh cá để chuẩn bị cho ngày cưới của họ. Không làm gì nổi cô, tên địa chủ đã đày cô ra một đảo hoang nhằm khuất phục ý chí của cô, cô đói lả và kiệt sức. Trong một đêm mưa gió hãi hùng, cô gái đã hoá đá nơi đây. Ðó cũng là đêm chàng trai biết tin cô gặp nạn, chàng mải miết bơi thuyền đi tìm cô. Ðến đêm, giông bão ập đến thuyền chàng vỡ nát, chàng dạt lên một đảo hoang, trong ánh chớp, chàng nhìn ra phía xa và nhận ra cô gái nhưng những lời chàng gọi đã bị gió mang đi. Chàng dùng hòn đá đập vào vách núi báo cho nàng biết rằng chàng đã đến. Chàng gõ khi máu trên tay chảy đầm đìa, tới khi kiệt sức và chàng hoá đá (hang Trống ngày nay). Ngày nay, khi đến thăm hang Trinh Nữ, bức tượng cô gái đứng xoã mái tóc dài, đôi mắt đang nhìn về đất liền vẫn còn đó. Ðối diện với hang Trinh Nữ, hang Trống (còn được gọi là hang Con Trai). Bức tượng chàng trai hoá đá đang quay mặt về phía hang Trinh Nữ vẫn còn, những tiếng gọi tha thiết cùng tiếng gõ vào vách đá của chàng vẫn văng vẳng đâu đây. Những dấu tích của trận cuồng phong đêm đó vẫn còn đến ngày nay - đó là những đổ vỡ của đất đá ngổn ngang trong hang, tiếng gió gầm gào qua vách đá và những bọt sóng vẫn tung lên trắng xoá.

Ðộng Thiên Cung

Trong những hang động đẹp nổi tiếng vịnh Hạ Long mới được phát hiện trong những năm gần đây phải nói đến động Thiên Cung. Ðộng nằm ở phía tây nam vịnh Hạ Long cách bến tàu du lịch 4 km, trên đảo Ðầu Gỗ ở độ cao 25 m so với mực nước biển, có tọa độ 107o00'54" và 20o54'78". Ðảo Ðầu Gỗ xưa còn có tên là đảo Canh Ðộc có đỉnh cao 189 m, dãy đảo như một chiếc ngai ôm trong lòng mình hai hang động đẹp. Ðường lên động Thiên Cung vách đá cheo leo, hai bên tán lá rừng che phủ um tùm, vào những đêm trăng, những chú khỉ tinh nghịch leo xuống tận đây để kiếm hoa quả. Qua một khe cửa hẹp, lòng động đột ngột mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác với chiều dài hơn 130 mét. Càng vào trong ta càng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp lộng lẫy của tạo hoá. Ðộng gắn liền với truyền thuyết về vua Rồng xưa. Chuyện kể rằng sau khi vua Rồng giúp dân ta đánh tan giặc giã, vua Rồng trở về động của mình an tọa, năm ấy trời hạn hán nặng, dân tình mất mùa nhiều nên họ phải cầu cứu vua Rồng ra tay làm mưa. Bao nhiêu người đã ra đi mà không có ngày trở về. Không sợ nguy hiểm gian nan, đôi trai gái quyết tâm cùng nhau đi tìm gặp vua Rồng. Người con gái của họ ra đời được đặt tên là nàng Mây. Nàng Mây lớn lên đã làm xao xuyến trái tim Hoàng tử Rồng và tình yêu đã giúp họ tìm đến với nhau, đám cưới được tổ chức 7 ngày 7 đêm tại khu vực trung tâm động. Ðể chúc mừng đám cưới, những chú rồng bay lượn lúc ẩn lúc hiện trong rừng mây nhũ đá, những chú voi con công kênh nhau lên nhảy múa, những con mãng xà lớn trườn mình quấn quanh cây đa cổ thụ, hai chú sư tử đá nhảy múa bờm tóc tung bay, trên cao những chú đại bàng giang rộng đôi cánh khổng lồ trên không trung... Một chú voi lớn được trang trí diêm dúa công phu đang nằm phủ phục chờ cô dâu chú rể bước xuống. Nam Tào, Bắc Ðẩu tóc bạc như mây cũng đến dự tiệc vui, cảnh tượng tưng bừng náo nhiệt và vô cùng sống động. Tất cả những hình ảnh đó như vừa được hoá đá nơi này. Trên vách động phía đông là một bức tranh hoành tráng đồ sộ, trong đó chạm nổi những nhân vật trong truyện cổ tích xưa, nét chạm khắc mềm mại uyển chuyển và vô cùng tinh tế sắc sảo tới từng chi tiết nhỏ, những khối điêu khắc dù là đồ sộ hay nhỏ bé đều được bàn tay của tạo hoá trau chuốt tỉ mỉ. Trung tâm động là 4 cột trụ to lớn lực lưỡng chống đỡ thiên đình. Từ chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành... Trên vách động phía bắc là cảnh một bầy tiên nữ đang múa hát chúc mừng đám cưới. Dưới vòm động cao vút, từng chùm nhũ đá rủ xuống muôn màu tạo thành bức rèm đá thiên nhiên lộng lẫy. Ðâu đó có tiếng trống bập bùng như trong đêm hội làng xưa. Ðó chính là tiếng gió thổi qua kẽ đá. Ðứng giữa vòm động cao vút, màu thạch nhũ xanh như dát ngọc ta ngỡ như đang đứng trong tiên cảnh bồng lai vậy.
Tới ngăn động cuối cùng, những luồn ánh sáng trắng xanh đỏ xen lẫn phối màu tạo nên khung cảnh hoa lệ. Một vòi nước tự nhiên bốn mùa tuôn chảy róc rách, nơi đây có ba chiếc ao, nước trong vắt. Ðây là nơi nàng Mây thường tắm cho 100 người con của mình và nuôi họ khôn lớn trưởng thành. Một con đường dẫn ra phía ngoài quanh co uốn khúc, đó chính là con đường mà nàng Mây cùng 50 người con của mình ra đi để khai phá vùng đất mới, 50 người con còn ở lại cùng với người cha xây dựng quê hương, di vật mà người mẹ để lại là bầu vú tiên tràn trề sức sống.

Hang Hanh

Cách thị xã Cẩm Phả 9 km về phía tây, động Hang Hanh là một hang động đẹp và dài nhất so với các hang động hiện có trên vịnh Hạ Long. Ðộng có chiều dài 1300 m, chạy xuyên suốt dãy núi đá Quang Hanh ra tới biển. Vì vậy, người Pháp còn đặt tên cho nó là Le tunel (đường hầm). Ði đến thăm động có thể bằng thuyền canos hoặc bằng xe ôtô, phải chọn vào lúc nước thuỷ triều xuống kiệt. Lúc ấy cửa động mới lộ rõ. Bên cạnh một phiến đá bằng phẳng chắn ngang ngay bên cửa động là miếu Ba cô. Truyền thuyết xưa kể lại rằng: Xưa có ba cô gái đi biển, gặp hôm trời mưa to, ba cô vào hang trú mưa, thấy cảnh sắc trong hang đẹp quá nên ba người càng mải miết ngắm cảnh, tới lúc nước triều dâng cao ba cô gái bị mắc kẹt ở trong và bỏ mình tại hang và hoá thành thuỷ thần. Truyền thuyết là vậy, thực tế động Quang Hanh đẹp hơn ta tưởng tượng rất nhiều. Con đò nhỏ dẫn du khách luồn lách qua từng khe đá quanh co dưới ánh đuốc bập bùng, từng chùm nhũ buông rủ xuống từ trần hang ánh lên những sắc màu kỳ diệu, dòng nước êm ả lững lờ trôi, không gian tĩnh mịch chỉ có tiếng mái chèo khua nước nghe thánh thót một thứ âm thanh kỳ ảo. Càng vào sâu, động càng đẹp, mang dáng dấp hoang sơ. Những chùm hoa đá rực rỡ, những trụ kim cương chợt ánh lên bao sắc màu óng ánh, khi ta chiếu đèn vào, những mâm xôi đồ sộ, chùm hoa mẫu đơn, giò phong lan cảnh... Tất cả đang ở trong tư thế vươn ra lay động rung rinh. Ðâu đó có tiếng trống bập bùng như đêm hội từ xa vọng lại. Ðó là tiếng sóng vỗ nhẹ vào vách đá tạo nên, và còn nhiều nữa những hình ảnh đẹp kỳ lạ.
II. Ðảo, Hòn 

Núi Bài Thơ

Ngày trước núi có tên là Truyền Ðăng, núi cao 106 m đứng bên cạnh thị xã Hòn Gai, một nửa chân núi gắn với đất liền, nửa kia ngâm trong nước biển. Ði thuyền trên vịnh, cách bờ vịnh Hạ Long chừng 300 m đã có thể nhìn thấy bài thơ khắc trên vách núi trong một khung hình vuông, mỗi chiều dài 1,5 m.
Năm 1468, vua Lê Thánh Tông cũng là nhà thơ nổi tiếng khi đi kinh lý vùng Ðông Bắc, đã dừng chân trên vịnh Hạ Long ngay dưới chân ngọn núi nên thơ này. Xúc cảm trước thiên nhiên kỳ vĩ, nhà vua đã làm một bài thơ và truyền lệnh khắc vào vách núi. Từ đó có tên gọi là núi Bài Thơ. An Ðô Vương Trịnh Cương (1686 - 1730) cũng có một bài thơ ở núi này.
Leo núi Bài Thơ là một trò chơi đầy hấp dẫn. Ðứng ở lưng chừng núi phóng tầm mắt xa xa là biển xanh, đảo đá nhấp nhô, nhìn lên cao là trời mây bồng bềnh và xung quanh là cây, là hoa rừng, là những cánh chim ríu rít chuyển cành...

Hòn Ðỉnh Hương (Lư Hương hay Bình Phong)

Hòn Ðỉnh Hương nằm chắn ngang giữa con nước, nên rất giống tấm bình phong để che chắn. Khi thủy triều xuống, hòn Ðỉnh Hương để lộ 4 chân uốn khúc không khác gì án lư hương.

Hòn Gà Chọi

Ði qua hòn Ðỉnh Hương khoảng chừng 1 km, du khách sẽ nhìn thấy 2 hòn đá thật to như dáng 2 con gà đang giương cánh đá nhau trên mặt biển.


Hòn Ðũa

Hay còn gọi là hòn Ông, cách Bãi Cháy 15 km về phía đông. Ðây là ngọn núi đá cao khoảng 40 m có hình tròn trông như chiếc đũa phơi mình trước thiên nhiên. Nhìn từ hướng tây bắc, hòn Ðũa giống như vị quan triều đình áo xanh, đầu đội mũ cánh chuồn, hai tay chắp trước ngực, nên dân chài Hạ Long quen gọi là hòn Ông.


Hòn Yên Ngựa

Ðây là một ngọn núi nhỏ có dáng rất hùng vĩ, giống như một con ngựa đang lao mình về phía trước, bốn vó tung bay trên mặt nước.


Ðảo Khỉ


Ðảo ở cách thị xã Cẩm Phả 4 km về phía đông nam, còn có tên gọi là đảo Rều. Từ năm 1962, đảo đã trở thành trại chăn nuôi khỉ. Khỉ ở đây là loài khỉ mũi đỏ. Ðây là điểm tham quan của Hạ Long. Ðến đây du khách như được hoà mình với thiên nhiên, được sống với thế giới của "hoa quả sơn".

Ðảo Tuần Châu

Cách hang Ðầu Gỗ 3 km về phía tây, rộng khoảng 3 km2. Ðảo có tên như vậy do việc ghép hai chữ "Linh Tuần" và "Tri Châu" mà thành. Ðảo có trồng nhiều rau xanh, là nguồn cung cấp rau xanh cho thành phố.
Trên đảo còn có ngôi nhà đơn sơ làm bằng tre nứa, song mây của nhân dân tỉnh Quảng Ninh làm để chủ tịch Hồ Chí Minh nghỉ ngơi sau mỗi lần đi thăm vịnh. Hiện nay vẫn được gìn giữ bảo vệ làm nhà lưu niệm.
Tỉnh Quảng Ninh đang triển khai một dự án lớn, biến đảo Tuần Châu thành một điểm du lịch đặc sắc của quần thể vịnh Hạ Long.

III. Bãi Tắm

Bãi Cháy

Dọc theo bờ vịnh Hạ Long là khu nghỉ mát thường quen gọi là Bãi Cháy. Ðây là khu nghỉ mát quanh năm lộng gió biển, nhiệt độ trung bình năm khoảng trên 20° C.
Bãi Cháy là một dải đồi thấp chạy thoai thoải về phía biển kéo dài hơn 2 km ôm lấy hàng thông cổ thụ nằm xen kẽ với những khách sạn cao tầng, những biệt thự nhỏ kiến trúc riêng biệt. Qua con đường rải nhựa, sát bờ vịnh là dải cát trắng và hàng phi lao xanh mát. Những hàng quán nhỏ xinh ẩn mình dưới những rặng phi lao. Tắm biển xong du khách có thể lên bờ ngồi thưởng thức những cốc nước mát lạnh để đón luồng gió biển.
Bãi Cháy - vịnh Hạ Long là một điểm du lịch hấp dẫn khách trong và ngoài nước.

Read More...

Giải mã một số địa danh ở Thành phố Hồ Chí Minh

Sương Nguyệt Anh hay Sương Nguyệt Ánh?
Thật ra, đề Sương Nguyệt Anh là đúng. Nguyên ban đầu chỉ có hai chữ Nguyệt Anh (con gái thứ 5 của cụ Nguyễn Đình Chiểu có sắc đẹp và tài làm thơ) đến sau ngày chồng qua đời bà thêm chữ Sương tức "người đàn bà góa chồng" đứng trước để thành biệt hiệu Sương Nguyệt Anh. Bà làm chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn năm 1918 là tờ Nữ giới chung (tiếng chuông của giới nữ). Cũng có bạn viện lẽ lâu nay người dân quen gọi rồi thì Anh với Ánh cũng không sao. Nói thế chưa ổn, vì tên cha mẹ đặt cho, hoặc bút hiệu của chính các tác giả chọn lấy, người sau cần phải tôn trọng không được sửa đổi tùy ý, dầu là theo "thói quen" lâu ngày.
Một số trường hợp viết sai như trên cũng được các nhà văn, nhà nghiên cứu như Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa đề cập đến, hoặc đã được nêu lên trong những công trình biên soạn về Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh mấy chục năm qua.
Gần đây nhất, trong bộ sách nhiều tác giả: Hỏi đáp về Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh do NXB Trẻ in quý II/2006 gồm 6 tập, TS Quách Thu Nguyệt chủ biên, có nêu rõ một số tên đường bị viết sai: Kha Vạn Cân (Thủ Đức), Trần Khắc Chân (Phú Nhuận), Trương Quốc Dung (Phú Nhuận), Hồ Huấn Nghiệp (Q.1) và cho rằng: "viết đúng phải là: Kha Vạng Cân, Trần Khát Chân, Trương Quốc Dụng, Hồ Huân Nghiệp".

Hàng Xanh hay Hàng Sanh?
Bây giờ đến các địa danh như ngã ba Hàng Xanh, chợ Hàng Xanh, gốc tích tên gọi này từ đâu có? Nhiều người giải thích do ngày trước dân cư chưa đông đúc, nhà cửa đường sá chưa mọc lên dày đặc, vùng này vốn trồng nhiều cây xanh sát nhau, lên xanh um kéo dài từ nút giao thông Hàng Xanh hiện nay đến tận chợ Bà Chiểu nên được gọi nôm na là "hàng xanh", sau thành địa danh chính thức.
Nhưng theo các nhà nghiên cứu địa danh học và sách đã dẫn trên phải viết Hàng Sanh mới đúng. Là vì, ngày trước vùng này trồng rất nhiều cây có tên Sanh, mà Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của cho biết Sanh là "một loại cây da, lá nhỏ" trồng dọc hai bên đường ở khu vực trên nên gọi Hàng Sanh.

Gò Vấp hay Gò Vắp?
Còn Gò Vấp thật ra là Gò Vắp nguyên là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây này thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP.HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương gần đó.

Rạch Ông hay Rạch Ong?
Rạch Ông (Q.8) với tên gọi Rạch Ông lớn và Rạch Ông nhỏ, thật ra là Rạch Ong (rạch có nhiều ong đến làm tổ). Địa danh này trong các cuốn sách cổ như Gia Định thành thông chí và Đại nam nhất thống chí đều dịch sang chữ Hán là Đại Phong Giang và Tiểu Phong Giang (phong nghĩa là con ong).

Chí Hòa?
Chí Hòa được người Pháp viết là Kihoa, đến khi người Việt xem tài liệu của người Pháp lại đọc thành... Kỳ Hòa!

Cát Lái hay Các Lái?
Hiện có một số nơi gắn liền với tên gọi Cát Lái như: ngã ba Cát Lái, bến phà Cát Lái, phường Cát Lái (Q.2) hoặc sông Cát Lái, rạch Cát Lái lớn, rạch Cát Lái bé (Cần Giờ).
Theo các nhà nghiên cứu viết như thế là vô nghĩa. Nguyên các vùng kể trên ngày xưa các lái buôn tụ về buôn bán nên dân gian gọi là vùng của các lái. Vì vậy đúng ra viết Các Lái mới có nghĩa.

Rạch Chiếc hay Rạch Chiết?
Qua khỏi cầu Sài Gòn có Rạch Chiếc, sách đã dẫn cho viết như thế không đúng, mà phải viết là Chiết (t thay vì c), vì xưa rạch này có nhiều cây chiết là "thứ cây mọc hoang, thấp nhỏ, lá lớn, hay mọc hai bên mé sông, thường ra lá non, mùi chát chát có thể ăn như rau". Trường hợp viết và đọc sai về Rạch Chiếc cũng tương tự như địa danh Cát Lái trên.

Một số địa danh khác...
Hóc Môn:
Theo PGS.TS Lê Trung Hoa, trong địa danh Hóc Môn, chữ hóc là âm cổ của hói, chỉ dòng nước nhỏ, môn là cây môn nước, hàm nghĩa là dòng nước nhỏ có nhiều cây môn mọc quanh.

Văn Thánh:
Địa danh Văn Thánh (Bình Thạnh) là do khu ấy Tổng trấn Gia Định thành là Lê Văn Duyệt cho xây miếu Văn Thánh (là miếu thờ ông Thánh về văn hóa tức Khổng Tử) để khuyến khích việc học hành.

Ký Thủ Ôn:
Địa danh Ký Thủ Ôn (Q.8) lấy tên một người Hoa thường gọi: Ký Thông. Ông tham gia kháng chiến, hoạt động bí mật trong chính quyền Sài Gòn, giả vờ hợp tác với Ngô Đình Diệm và tử trận trong khi giao chiến với quân Bình Xuyên.

Bến Dược:
Địa danh Bến Dược có hai giả thuyết. Thuyết thứ nhất cho rằng xuất phát từ cái bến của quân giải phóng dùng vượt qua sông Sài Gòn thời chống Mỹ. Thuyết thứ hai cho là vùng này chuyên trồng cây thuốc Nam nên dùng từ dược để gọi. Sau này người ta tìm được địa danh xóm Bà Dược. Dược là tên một người phụ nữ, nên cái bến tại xóm này chắc ban đầu mang tên bến Bà Dược, sau rút gọn: Bến Dược, và thành tên vùng Bến Dược.

Mả Lạng:

Mả Lạng có dạng gốc là Mả Loạn. Những ngôi mộ bỏ hoang, những cái giếng không dùng nữa thì gọi là mả loạn, giếng loạn. Khu dân cư tại phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, có trên 10 ngôi mộ không ai chăm sóc nên gọi là khu mả loạn, bị nói và viết chệch thành Mả Lạng. Tại thành phố Phan Thiết cũng có một khu mang tên này.


Mả Ngồi:

Mả Ngồi là một ở xã Bình Trị Đông, huyện Bình Chánh; một ở xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi. Theo người địa phương, tại xã Thái Mỹ có một ngôi tháp của vị tu sĩ Cao Đài, phái Chiêu Minh cách đây trên 60 năm, khi viên tịch ở tư thế ngồi nên đạo hữu và đồng bào chôn ông cũng ở tư thế ấy.


Chợ Đuổi:
Chợ Đuổi (Q.3) là dạng viết sai chính tả của chợ Đũi. (Trong Sổ tay địa danh Việt Nam, 2005, Đinh Xuân Vịnh cũng viết nhầm). Đũi là thứ hàng dệt bằng tơ gốc, mặt hàng thô. Chợ Đũi đầu tiên ra đời đầu thế kỷ 19 tại phường Phạm Ngũ Lão, quận 1 nay, sau dời về góc đường CMT8 và Võ Văn Tần, quận 3.


Sông Thị Nghè:
Về nguồn gốc tên sông Thị Nghè, ta có hai tuyến khác nhau:
Thứ nhất Bà Nguyễn Thị Khánh, con gái Khâm sai Nguyễn Cửu Vân (thời chúa Nguyễn Phúc Chu, 1691-1725) và là vợ của ông Nghè làm thư ký trong dinh Phiên Trấn, cho xây mộy cây cầu dài bắt qua sông để chồng tiện đi làm việc và cũng để dân chúng sử dụng. Cầu nầy được dân gọi Bà Nghè, sau đổi thành Thị Nghè.
Thứ hai bà Thị Nghè (vợ một ông Nghè) tổ chức các toán dân Pháp đánh quân Pháp. Khi giặc chiếm Sài Gòn, cho một tàu nhỏ đổ quân lên bờ liền bị nghĩa quân của Thị Nghè đánh dữ dội. Sau bà hy sinh trong một trận đánh. Dân chúng đặt tên sông, cầu và vùng Thị Nghè từ đó.

Kinh Ruột Ngựa:
Kinh Ruột Ngựa do quan Nguyễn Hữu Đàm cho đào vào mùa Thu năm Nhâm Thìn (1772), phá một đường sình lầy để đào con kinh thẳng như ruột ngựa, nên gọi là "Mã Trường Giang", giúp cho thuyền bè đi lại được thuận lợi hơn.
(Nguồn tổng hợp)

Read More...

Đình Bình Khánh - Phường Bình Khánh, quận 2

1. Vị trí, Lịch sử
Từ khi Thống suất Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng mệnh Hiếu Minh hoàng đế ( Chúa Minh Nguyễn Phước Chu) lập xứ Sài Gòn mùa xuân năm Mậu Dần 1698, dụng dinh Phiên trấn, đặt chức Lưu thủ, Cai bạ, Ký lục để quản trị từ hữu ngạn sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ, đất Quận 2 (vùng Thủ Thiêm xưa) nghiễm nhiên trở thành… ngoại ô.
Cái tên Bình Khánh, có lẽ xuất hiện trong khoảng năm 1757- 1862, khi đó vùng đất này thuộc tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên rồi huyện Bình An, tổng An Bình với 7 xã thôn. Cùng với đình An Khánh, đình Bình Khánh có lẽ cũng được hình thành rất sớm (theo Ban Quý tế Hội Đình Bình Khánh thì đình được tạo dựng trước năm 1850) cách nay đã hơn 150 năm, trải qua khoảng 7, 8 thế hệ, chứng kiến nhiều thăng trầm của vùng đất mới phía Nam.
Năm 1947, đình bị quân Pháp đốt phá. Những lính người Việt trong lực lượng bố ráp của Tây khiêng long ngai, khám thờ, bàn thờ, liễn đối… bỏ ra ngoài sân rồi mới đốt đình. Sắc thần cũng bị thất lạc trong thời gian này. Đến năm 1955, sau hiệp định Genève, người dân địa phương trở về làng cũ mới góp sức dựng lại đình. Đợt trùng tu mới đây nhất là vào giữa năm Quý Mùi 2003.
Trong đợt tổng điều tra di tích năm 1999 của Sở Văn hoá Thông tin TP. Hồ Chí Minh, đình Bình Khánh đã được xếp vào Danh mục cần được bảo vệ.

2. Hiện trạng đình
Đình hiện tại chiếm một diện tích không lớn trên thửa đất ngày xưa. Hiện nơi đình toạ lạc là Ap Bình Khánh, xã Bình Khánh, nằm trên đường Lương Định Của, cách ngã tư Lương Định Của- Trần Não, đi về hướng ngã ba Giồng, khoảng 200 mét. Cổng Tam quan dựng ngay mặt đường, xây năm Đinh Sửu (3-1997), đắp hai câu liễn bằng chữ Quốc ngữ. Theo Tam quan đi chừng 20 mét là tới đình.
Sau năm 2003, đình được trùng tu khang trang, đẹp đẽ và vẫn giữ được dáng vẻ xưa. Ngoài Cổng đình còn hai câu liễn: Bình an, thạnh vượng, do tâm nguyện; Khánh sinh lễ nghĩa, gia đình thạnh. Trong cổng cũng có hai câu: Phú quý, vinh hoa, tài lộc tiến; Đình kiến nhân dân chúng hiệp công (chữ công viết thành chữ lực hay thực sự trước đây người khắc muốn viết lực?).
Võ ca mới nằm đối diện với chánh điện. Bên ngoài chánh điện nhìn uy nghi với mái ngói có những đầu đao hình rồng. Trên mái là lưỡng long tranh châu hoặc lưỡng long chầu nguyệt . Các bao lam nội điện cũng sử dụng cách trang hoàng này.
Ngoài cửa còn 4 bức liễn, hai chạm khắc tinh xảo, hai có đề: Sử nghệ thư lâm lược đắc Thánh hiền tinh sự nghiệp; Thiên niên âm chất đô do Tổ đức tích nhân cơ . Gian trước thờ Quan thánh Đế quân (Quan Công) rồi đến hai hàng Lỗ bộ, mã, hạc và rùa. Bên hữu (từ ngoài nhìn vào) thờ Tiền hiền Hậu hiền, bên tả thờ Bạch mã Thái giám, nhị vị Công tử. Nội điện kiến trúc noi theo lối cũ, kiểu Tứ trụ với bốn cột tròn, đắp nổi hình rồng, đà đều giả gỗ, tạo nét rêu phong, phân làm ba và đều có bao lam tinh tế. Hai bên thờ Tả ban và Hữu ban (nhưng không hiểu sao lại bố trí Hữu ban ở Thanh long, Tả ban ở Bạch hổ?). Giữa là Bàn thờ Thần, Long ngai được tôn lên cao, chạm trỗ tinh xảo.
Đình còn có thêm một gian bên thờ Tiên sư. Mới tạo lại sau này. Hiện nay, cứ từ 16- 18 tháng Ba âm lịch đình thiết Đại lễ Kỳ yên. Đây là dịp người địa phương, khách thập phương, các Ban Quý tế ở nhiều nơi về viếng đình Bình Khánh.
Nhìn chung, đình Bình Khánh là một điểm tham quan du lịch có cái để du khách thưởng ngoạn khi đến với Quận 2 TP. Hồ Chí Minh.
(Nguồn UBND Q.2)

Read More...

Đình An Phú - Phường An Phú, quận 2

1. Vài nét về đình An Phú:
Đình An Phú có vị trí tại tổ 24, ấp 3, phường An Phú, quận 2, Đình An Phú là ngôi đình cổ xưa của Làng An Phú được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 19, cách nay khoảng 250 năm, trải qua nhiều lần trùng tu và sửa chữa, nhưng quy mô và kiểu dáng đình An Phú vẫn mang kiến trúc cổ xưa và tín ngưỡng dân gian miền quê Nam Bộ. Vị thần chính của đình là Thành Hoàng Bổn Cảnh. Ngoài ra đình còn thờ Quan Thánh, Đông trù tư mạng, Cửu thiên Huyền nữ, Sơn lâm chúa tể đại tướng quân, Thần Nông, Tiền hiền, Hậu hiền, Ngũ hành Nương Nương, bà Phan Thị Đỏ và các chiến sỹ hy sinh ở xã An Phú. Mỗi năm ban quý tế đình đều có tổ chức lễ Kỳ yên vào ngày 10-11-12 tháng 2 âm lịch. Đình An Phú là cơ sở cách mạng suốt 2 thời kỳ chống Thực Dân Pháp và chống Đế Quốc Mỹ xâm lược, là trạm thông tin liên lạc đưa rước cán bộ, nơi dừng chân của các lực lượng võ trang Thủ Đức và Sài Gòn, liên tục đánh phá địch ngay sát Sài Gòn và đưa vũ khí vào nội thành chuẩn bị cho cuộc đánh lớn vào Sài Gòn trong dịp tết Mậu Thân năm 1968.
Đình An phú đã được công nhận Di tích lịch sử cấp Thành phố tại Quyết định số 5515/QĐ-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2006 của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về xếp hạng di tích cấp Thành phố đối với di tích lịch sử Đình An Phú tại ấp 3, phường An Phú, quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đình An Phú trong 2 thời kỳ chống Thực Dân Pháp và Chống Đế Quốc Mỹ:
Ngay từ đầu thành lập chính quyền cách mạng là Thôn Bộ Minh đóng trụ sở tại đình An Phú năm 1946-1947, nơi đây thường diễn ra các lớp bình dân học vụ trong làng và là nơi họp mặt quần chúng nhân dân phát động phong trào đấu tranh chống Thực Dân Pháp.
+ Trong thời kì
kháng chiến chống Thực Dân Pháp năm (1945-1954):
Đình An Phú trở thành nơi quy tụ những thanh niên yêu nước của Làng An Phú. Đó là những thanh niên hưởng ứng phong trào thanh niên tiền phong, người đứng đầu là Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch- đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước ngày khởi nghĩa tháng 8/1945 Thanh niên tiền phong công khai tuyên bố là thành viên của mặt trận Việt Minh. Tổ chức thanh niên tiền phong xã An Phú do đồng chí Huỳnh Văn Ngởi chỉ huy, tổ chức thành lực lượng quân sự cướp chính quyền tại địa phương. Khi Pháp tái chiếm, bộ phận này là đội cảm tử do đồng chí Ba Kỉnh chỉ huy tham gia mặt trận Gồng Ông Tố. Đình An Phú còn là nơi đóng quân của đội quân cảm tử và củng cố lực lượng gia nhập vào bộ đội”Thái Văn Lung”, đơn vị bộ đội nổi tiếng Sài Gòn-Gia Định do Luật sư Thái Văn Lung một trí thức yêu nước lãnh đạo. Ngoài ra còn rất nhiều đơn vị chọn đình làm trạm liên lạc, tập trung quân, vũ khí như: Ban tình Báo, Ban sưu tầm vũ khí CL300, đơn vị quyết tử 3824, biệt động đội 2766, đơn vị vũ trang 92, đơn vị sưu tầm 306, Công an Tân Bình và còn nhiều đơn vị khác củng trú đóng tại Đình.
+ Trong thời kỳ kháng chiến chống Đế Quốc Mỹ (1954-1975):
Thời kỳ này các đồng chí cán bộ cách mạng của xã An Phú ở lại tiếp tục hoạt động, dưới sự đùm bọc của nhân dân. Đình An Phú lại tiếp tục trở thành cơ sở cách mạng, trước khi vào xóm hoạt động các đồng chí ghé ngang qua đình nắm bắt tình hình, nhưng địch thường xuyên rình rập theo từng bước chân các đồng chí cách mạng. Đặc biệt trong đợt tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968, Bộ chỉ huy mặt trận cánh Đông Bắc Sài Gòn đặt trạm thông tin liên lạc tại đình An Phú, nhiều thương binh trong chiến dịch này cũng được đưa về đình An Phú săn sóc trước khi đưa về căn cứ. Đình An Phú còn là nơi xuất phát của đơn vị D4, đơn vị này do đồng chí Tư Kia chỉ huy đột nhập đánh chiếm các mục tiêu quân sự của địch ở cầu Tân Cảng.
(Nguồn Phòng VH-TT-TT Q2)

Read More...

Thác Giang Điền (Trảng Bom - Đồng Nai)

Thác Giang Điền đã có từ rất lâu, cái tên Giang Điền gắn liền với tên của đơn vị hành chính địa phương là xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Trước đây, Giang Điền là khu khai thác đá tự do của người dân địa phương, xung quanh dòng thác là những mảnh đất hoang hoá, lồi lõm, lau, sậy mọc um tùm, hoang sơ bao phủ cả một khu vực rộng lớn, quanh năm nắng bụi mưa lầy.
Dòng thác Giang Điền bắt nguồn từ Cẩm Mỹ, Long Thành. Từ những dòng suối nhỏ chảy quanh co nối vào thành sông Buông rồi tiếp tục đổ ra sông Đồng Nai. Giang Điền, cái tên nghe sao thân thương lại nằm giữa vùng đất khô cằn đầy sỏi đá, phải làm gì đó cho Giang Điền? Với những ý tưởng đầy sự lãng mạn và sáng tạo, buổi sơ khai hai vợ chồng ông Lê Kỳ Phùng quyết định dùng số tiền đã tích góp từ nhiều năm để đầu tư xây dựng thác Giang Điền thành một Khu du lịch sinh thái, nơi con người hòa mình cùng thiên nhiên.
Đầu năm 2003 sau khi được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt dự án Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền, Công ty bắt tay vào việc khai khẩn với diện tích ban đầu 67,5 hecta đất hoang hóa. Vừa khai khẩn xây dựng, vừa bảo dưỡng bởi Giang Điền có một thác nước nguyên vẹn, tự nhiên, một phong cảnh thiên nhiên thơ mộng và hùng vĩ hiếm hoi chỉ cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 48km. Ngày tháng trôi qua, Khu du lịch đã dần hình thành. Những con đường lát đá mang dáng dấp của đấu trường La Mã, những kỳ hoa dị thảo khắp mọi miền đất nước đã được hội tụ về đây đua nhau khoe sắc. Biến vùng đất hoang vắng mưa lầy nắng bụi ngày xưa thành một Khu du dịch sinh thái an lành màu mỡ và sống động. Ngọn thác Giang Điền trở nên hùng vĩ hơn, lộng lẫy hơn bên cạnh một thảm thực vật phong phú, đa dạng cùng với những dịch vụ được sắp xếp khéo léo. Tất cả tạo nên một sự hài hòa tuyệt diệu giữa thiên nhiên và con người.
Ngày 29/01/2006 (nhằm ngày mùng một Tết Bính Tuất 2006) Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền chính thức mở cửa đón du khách, từ đó đến nay Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền đã được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến. Trong suốt quá trình hoạt động, Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền từng bước không ngừng hoàn thiện các loại hình dịch vụ phù hợp với không gian xanh, mang đậm nét sinh thái và không ngừng cải tiến chất lượng phục vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.
Trong thời gian sắp tới, Khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền tiếp tục mở rộng Khu du lịch trên 118,42 hecta, xây dựng thêm những công trình vui chơi giải trí, khu resort nghỉ dưỡng, trung tâm thương mại, sân golf, khu đô thị sinh thái,… và nhiều công trình kiến trúc khác, cũng như không ngừng cải thiện chất lượng phục vụ để đáp lại tình cảm, sự quan tâm và tín nhiệm của các đồng nghiệp, của người dân nơi đây và của du khách trên mọi miền đất nước.
(Nguồn KDL thác Giang Điền)

Read More...

Thảo Cầm Viên Sài Gòn

Nhân chuyến dã ngoại của CLB Tre Xanh Q.2 và trường DL Nguyễn Khuyến, xin giới thiệu đến các bạn đôi nét về Thảo Cầm Viên Sài Gòn.

1. Thảo Cầm Viên Sài Gòn (tên gọi tắt: Thảo Cầm Viên):
Có tên ban đầu: Vườn Bách Thảo, còn người dân quen gọi Sở thú; là nơi bảo tồn động thực vật có tuổi thọ đứng hàng thứ 8 trên thế giới, tại Vệt Nam.
Khuôn viên rộng lớn này hiện tọa lạc ở số 2B Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 23 tháng 3 năm 1864, Đề đốc De La Grandière ký nghị định cho phép xây dựng Vườn Bách Thảo tại Sài Gòn. Tháng 3 năm 1864, ông Louis Adolphe Germain, một thú y sĩ của quân đội pháp, được giao nhiệm vụ mở mang 12ha vùng đất hoang ở phía Đông Bắc rạch Thị Nghè (Pháp gọi là Arrroyo d’ Avalanche, lấy theo tên chiến tàu chiến đã vào rạch Thị Nghè để tấn công thành Gia Định) để làm nơi nuôi thú và ươm cây. Tháng 3 năm sau (1865) bước đầu, ông Germain đã xây dựng được một số chuồng trại.
Để biến nơi này thành nơi nuôi trồng các loài động vật, thực vật của toàn Đông Dương; vừa để trưng bày, vừa để cung cấp cây giống cho Viện Bảo Tàng Lịch Sử thiên nhiên Paris và trồng dọc theo các trục lộ ở Sài Gòn; viên Toàn quyền Đông Dương nhận thấy cần phải có người giỏi chuyên môn hơn, nên đã mời cho ông JB. Louis Pierre, người phụ trách chăm sóc thực vật của vườn bách thảo Calcutta (Ấn Độ), sang làm giám đốc vào ngày 28 tháng 3 năm 1865.
Cuối năm 1865, Vườn Bách Thảo đã được 20 ha. Đến năm 1924, khuôn viên mở thêm qua bên kia kênh Thị Nghè thêm 13 ha nữa, và một chiếc cầu đúc bắc qua sông để nối liền hai khu vực cũng được hoàn thành vào năm 1927. Và cũng trong năm này, nhờ sự vận động của một viên chức Pháp tại Nhật, chính phủ Nhật đã cung cấp cho Vườn Bách Thảo khoảng 900 giống cây lạ.
Ngày 15 tháng 12 năm 1867, Thống đốc De La Grandière ban hành nghị định số 183 nhằm chấn chỉnh tổ chức và điều hành Vườn Bách Thảo, đặt nơi đây dưới sự quản lý của Hội đồng thành phố Sài Gòn, với một ngân khoảng điều hành 21.000 quan Pháp/năm, do ngân sách thuộc địa cung cấp.
Ngày 17 tháng 2 năm 1869, phó đô đốc G.Ohier, quyền Thống đốc Nam Kỳ, ký nghị định số 33 thành lập Ủy ban thường trực do Philastre làm chủ tịch, để giám sát việc chi tiêu tại Thảo Cầm Viên. Vào thời điểm này, chi phí hàng năm của Vườn Bách Thảo đã được nâng lên 30.000 quan Pháp/năm. Cũng theo nghị định trên, đúng ngày Quốc khánh của Pháp 14 tháng 7 năm 1869, Vườn Bách Thảo mở cửa thường trực cho công chúng vào xem.
Về sau, Vườn Bách Thảo còn trải qua nhiều lần chỉnh trang, tôn tạo:
Năm 1924 - 1927: trải nhựa đường nội bộ trong khuôn viên, xây dựng các chuồng thú có qui mô lớn và kiên cố như chuồng lồng tròn để nuôi khỉ, chuồng cọp v.v...
Năm 1956: lại được tu sửa, tái thiết và đổi tên là Thảo Cầm Viên Sài Gòn.
Năm 1984: xây dựng mới nhiều hạng mục công trình, như: kè đá dọc kênh Thị Nghè, cải tạo hệ thống thoát nước và hệ thống dây điện trần, trải nhựa và bê tông đường nội bộ, xây dựng tường rào dọc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm...
Đặc biệt là từ năm 1990, nhiều chuồng thú được cải tạo và mở rộng cho phù hợp với đời sống của từng loài thú, đã nâng tổng diện tích chuồng thú sau năm 1975 từ 8.500m2 lên đến năm 2000 là 25.000m2.
Nhờ mối quan hệ hợp tác, trao đổi, mua bán với nhiều vườn động thực vật và các tổ chức khoa học quốc tế, bộ sưu tập động vật của Thảo Cầm Viên Sài Gòn ngày một thêm phong phú. Cho nên bên cạnh hàng chục loài có vú, hàng chục giống chim, nhiều giống bò sát và giống có cánh các loại, như: khỉ, gấu, cọp, voi, vượn, hươu, cá sấu... Nhiều loài động vật mới lạ đã xuất hiện tại Việt Nam như: hà mã (Hippopotamus amphibius), Hà mã lùn (Choeropsis liberiensis), Báo Nam Mỹ (Panthera onca), Đà điểu châu Phi (Struthio camelus), Hồng Hạc (Phoenicopterus ruper ruper), Đười ươi (Pongo pygmaeue), Hươu cao cổ (Giraffa camelopardalis)...
Hiện nay, ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn, ngoài những khu vực nuôi trồng cầm thú, cây cảnh và sưu tập phong lan, còn có khu dành cho trẻ em, cho người lớn vui chơi, giải trí...
Ngoài ra, trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn còn có hai công trình kiến trúc đặc sắc khác, đó là Đền thờ vua Hùng (Thành phố Hồ Chí Minh) dựng năm 1926 và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh mở cửa từ năm 1929.

2. Giá trị:
Sau hơn 130 năm tồn tại, Thảo Cầm Viên đã trở thành một vườn thú lớn với 590 đầu thú thuộc 125 loài, thực vật có 1800 cây gỗ thuộc 260 loài, 23 loài lan nội địa, 33 loài xương rồng, 34 loại bonsai... và đang được bổ sung thêm.
Cho nên tuy ở chốn thị thành, nhưng không khí ở đây khá trong lành với tiếng thú, tiếng chim muông cùng vô vàn cây xanh, hoa đẹp...
Và hơn thế nữa, Thảo Cầm Viên còn có vai trò giáo dục, bảo tồn và nghiên cứu...
Hiện nay, Thảo Cầm Viên Sài Gòn có quan hệ với nhiều tổ chức quốc tế như: Hiệp Hội các Vườn Thú Đông Nam Á (SEAZA), Liên Đoàn Thế Giới Bảo Tồn Thiên Nhiên và Tài Nguyên Thiên Nhiên (IUNC), Hiệp Hội Giáo Dục Bảo Tồn các Vườn Thú Trên Thế Giới (IZEA)...

3. Người sáng lập Thảo Cầm Viên Sài Gòn:
Ông Jean Baptiste Louis Pierre (1833 - 1905), người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Thảo Cầm Viên Sài Gòn.
Ông là một nhà thực vật học suốt đời tận tụy cho sự nghiệp khoa học. Nhờ ông, nhiều cây rừng tự nhiên được tồn tại, một số loài cây đại mộc từ các lục địa khác được du nhập, một số cây ăn trái thuộc khu vực Đông Nam Á được ươm trồng, để từ đây cho ra đời những giống cây trái ngon.
Trong 12 năm phụ trách Thảo Cầm Viên Sài Gòn (1865 - 1877), ông còn để lại một di sản quý giá nữa, đó là bộ sưu tập hơn 100.000 tiêu bản hiện được lưu giữ tại Bảo tàng thực vật thuộc Viện Sinh Học Nhiệt Đới Thành phố Hố Chí Minh và hàng ngàn cây cổ thụ trên các đường phố khu trung tâm, trong công viên [[Tao Đàn]]...
Để tưởng nhớ và ghi công ông, vào tháng 2 năm 1933, Hội đồng khoa học Pháp đã cho xây dựng một cột bia, bằng đá hoa cương đặt phía sau khu vườn kiểng. Trên mặt cột bia, ghi lại câu nói của ông trước khi qua đời: Tôi đã nghỉ hưu nhưng còn quá nhiều việc để làm cho ngành thực vật, chỉ tiếc là không còn thời gian và cuộc sống thì quá ngắn ngủi.
Vào năm 1994, nhân dịp kỷ niệm 130 năm thành lập Thảo Cầm Viên Sài Gòn, cột bia đã được tôn tạo và đặt ngay trên trục đường chính, giữa Bảo tàng lịch sử và Đền thờ các vua Hùng. Lần này, cột bia có gắn thêm bức tượng bán thân bằng đá hoa cương màu hồng, tạc hình ông J.B Louis Pierre.
(Nguồn Wiki)

Read More...

Về Lộc An - Sông Ray

Đường đi đến Lộc An rất đẹp, theo quốc lộ 51B đến Bà Rịa - Vũng Tàu, rẽ vào lối đi đến thị trấn Long Hải qua khu núi Minh Đạm, nếu đúng dịp lễ Giáng sinh và năm mới du khách sẽ được chứng kiến cảnh đẹp của rừng cây Anh Đào bạt ngàn thi nhau đua sắc.
Hoa Anh Đào đủ màu, từ trắng tinh, trắng xanh, hơi tím và hơi vàng tràn ra hai bên đường như vẫy gọi, như chào mời làm cho du khách quên đi nỗi mệt mỏi đường xa. Qua rừng Anh Đào hai bên đường là rừng cây chạy dài tới cửa biển. Du khách có dịp đến thăm chợ cá, chứng kiến từng đoàn ghe thuyền của ngư dân ra vào, neo đậu ở cửa biển, ghi lại những hình ảnh lao động cần cù của ngư dân.
Lộc An vừa có biển, có sông, có rừng nên rất phù hợp với loại hình du lịch sinh thái và về nguồn của giới trẻ. Bạn có thể đi thuyền trên vàm sông Ray, leo núi tham quan núi Minh Đạm cách đó chừng vài kilômet. Khác với biển ở những nơi khác, muốn ra bãi biển Lộc An bạn phải dùng xuồng hoặc thúng câu băng qua một hồ nước rộng, người địa phương gọi là đùng. Điều này lại làm cho bạn thích thú vì được lắc lư trong chiếc thúng câu rong chơi trên mặt hồ phẳng lặng.
Những phương tiện chuyên chở “đặc chủng” cùng với ghế bố, dù, võng, lò nướng... thường được các khách sạn ở đây miễn phí nếu khách nghỉ qua đêm. Biển Lộc An trong xanh và kín gió, bãi cát phẳng lì nằm dưới những cánh rừng dương trải dài vô tận, sẽ cuốn hút bạn ngay lần đầu đặt chân đến. Nếu bạn không muốn ăn theo thực đơn của nhà hàng thì có thể vừa tắm biển vừa thưởng thức hải sản mùa nào thức nấy được mua trực tiếp của ngư dân...
Mỗi khi thủy triều xuống, ở những bãi đước ven biển Lộc An có rất nhiều cá thòi lòi lách lên tìm mồi. Đó là cơ hội để những người có máu săn bắt trổ tài chụp nơm hoặc bắn tỉa bằng chạc thung. Rượu đế do chính người Lộc An chưng cất nhắm với cá thòi lòi nấu me là một đặc sản chỉ Lộc An mới có, lỡ thử vào rồi bạn khó lòng dứt được.
Ấn tượng nhất khi đến Lộc An còn là những cồn cát có tên là Bún Bịch - Động Đền hay còn gọi là Trảng Vua nơi có vẻ đẹp kỳ diệu không thua gì đồi cát Mũi Né - Hòn Rơm. Ở đây còn khá hoang sơ, bãi tắm chưa bị chia năm xẻ bảy như các nơi khác, hiếm hoi lắm bạn mới gặp một chiếc xe đạp chở quà bánh bán cho dân vạn chài lặng lẽ ngang qua.
Cửa biển Lộc An chính là điểm hẹn của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc, cửa biển Lộc An đã trở thành tuyến giao thông nối liền giữa miền Bắc và miền Đông Nam bộ. Nơi đây đã bao lần chứng kiến nghệ thuật tài tình, khéo léo của các chiến sĩ cách mạng chuyển vũ khí cho mặt trận miền Đông Nam bộ.
Ngày nay, trở lại cửa biển Lộc An thăm lại di tích lịch sử, nơi đã từng ghi dấu ấn bao chiến công oanh liệt của quân và dân miền Đông Nam bộ trong những năm kháng chiến để nhớ lại một thời đầy oanh liệt của dân tộc VN.
(Nguồn báo Tuổi trẻ)

Read More...

Cột cờ Thủ Ngữ

“Mùa thu rồi, ngày 23, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến…”. 64 năm trước, trong biển người Sài Gòn - Gia Định xuống đường, hình ảnh của những đội cảm tử quân với súng săn, chai xăng, dao găm hòa trong rừng tầm vông vạt nhọn đã làm nên một Nam bộ kháng chiến bất tử.

Hào hùng...
Vào rạng sáng 23-9-1945, lời hiệu triệu đồng bào Nam bộ kháng chiến của Ủy ban Kháng chiến Nam bộ đã ra đời và trở thành dấu son mở đầu cho trang sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai của nhân dân ta.
Ngay từ sáng 23-9, các đội tự vệ chiến đấu, thanh niên xung phong, công đoàn xung phong đã chống trả quyết liệt quân địch tại Dinh Đốc lý (trụ sở UBND TP hiện nay), đường Vécđun (đường Cách Mạng Tháng Tám hiện nay), đường Nôrôđôm (đường Lê Duẩn hiện nay)… Đặc biệt là cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt ở Cột cờ Thủ Ngữ.
Ngay dưới chân Cột cờ Thủ Ngữ, một tiểu đội tự vệ chiến đấu của ta vốn được trang bị mỗi một khẩu súng săn, dao găm, lựu đạn tự chế đã ngoan cường chống trả một đại đội quân Anh được trang bị vũ khí hiện đại và đầy đủ. Với lực lượng mỏng, vũ khí thô sơ nên trước hỏa lực mạnh của kẻ thù từng chiến sĩ của tiểu đội đã lần lượt ngã xuống, anh dũng hy sinh dưới chân Cột cờ Thủ Ngữ…
Theo tư liệu lịch sử, trước khi kéo cờ Anh lên Cột cờ Thủ Ngữ, viên sĩ quan chỉ huy người Anh đã ra lệnh cho cả đại đội bồng súng chào những đối thủ mà họ vừa tiêu diệt. Có lẽ sự hy sinh anh dũng của những chiến sĩ tiểu đội tự vệ chiến đấu của ta cũng khiến cho đối phương phải trân trọng.
Ông Nguyễn Tấn Hoài, Trưởng ban Liên lạc truyền thống Quân giới Nam bộ (B2), nguyên là cảm tử quân trong những ngày Nam bộ kháng chiến, nhớ lại: “Vào thời điểm đó, những trận đánh lịch sử của quân dân Sài Gòn - Gia Định ở Thị Nghè, cầu Kiệu, Bàn Cờ và đặc biệt là sự hy sinh của tiểu đội tự vệ tại Cột cờ Thủ Ngữ càng làm cho anh em chúng tôi tiếp thêm sức mạnh để cầm tầm vông tiến lên phía trước. Còn nhớ, trước khi bước vào một trận đánh, chúng tôi đều cùng bày tỏ lòng quyết tâm sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ, noi gương những chiến sĩ cảm tử ở Cột cờ Thủ Ngữ, Thị Nghè…”.

Sẽ sớm trùng tu xứng đáng
Chiều 22-9-2009, chúng tôi tìm đến Cột cờ Thủ Ngữ - chứng tích hào hùng gắn liền với những ngày lịch sử mùa thu năm 1945 năm xưa. Đường vào cột cờ thật khó khăn. Vừa đến khu vực cầu Khánh Hội, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, chúng tôi đã nhìn thấy ngay Cột cờ Thủ Ngữ sừng sững giữa công trình dở dang của dự án đại lộ Đông - Tây. Trừ cây cột cờ cao vút, khu vực tường của chân cột cờ nay có nhiều vết nứt nham nhở...
Đáng tiếc, chứng tích lịch sử ngay tại trung tâm thành phố này còn chưa được các cơ quan chức năng và người dân quan tâm đúng mức. Anh Nguyễn Thanh Thản kể, 10 năm nay kể từ khi anh làm nhân viên bảo vệ của Bảo tàng Hồ Chí Minh (chi nhánh TPHCM), anh thấy không mấy người hỏi thăm, tìm đến địa danh này.
Được biết, tháng 4-2009, UBND TPHCM đã giao Sở GTVT bàn giao khu vực đất thuộc cảnh quan Cột cờ Thủ Ngữ cho Sở VH-TT-DL quản lý để trùng tu sửa chữa và tôn tạo công trình; đồng thời chỉ đạo các đơn vị thực hiện hạng mục xây dựng bờ kè dọc sông tại khu vực di tích phù hợp tiến độ và tính chất bảo tồn của công trình. Tuy nhiên, trên thực tế, ngoài những lần đến đo đạc thì đến nay, việc trùng tu sửa chữa hay tôn tạo công trình hầu như vẫn chưa được thực hiện.
Cột cờ Thủ Ngữ chính là một trong những chứng tích lịch sử Nam bộ kháng chiến rất đáng được bảo quản và tôn tạo để lớp lớp người dân TPHCM biết được những chiến tích hào hùng của quân dân Sài Gòn - Gia Định. Ngay từ bây giờ, khi công trình thi công đại lộ Đông - Tây chưa hoàn thành, thiết nghĩ, Sở VH-TT-DL cần bắt tay ngay vào thực hiện việc đầu tư trùng tu di tích Cột cờ Thủ Ngữ.
(Nguồn Báo SGGP - ÁI CHÂN - THẠCH THẢO)

Read More...

Ngã ba Đồng Lộc

Những ngày tháng 7 trời Hà Tĩnh nắng như đổ lửa. Không còn con đường đất đỏ nữa, đường Hồ Chí Minh huyền thoại bây giờ rộng thênh và đẹp đến không ngờ. Xe chạy ngang qua huyện Can Lộc, đập ngay vào mắt du khách là một cây cột biểu tượng cao 19,5m với phù điêu ba mặt ghi hình vành tay lái ô tô giữa bông lúa và vòng hoa chiến thắng, khẩu súng trường, cây cuốc chim in trên nền trời xanh ngắt.
Ngã ba Đồng Lộc! Một địa danh anh hùng luôn lay động hàng triệu trái tim con người mỗi khi nhắc đến. Ngã ba Đồng Lộc, nơi có 10 cô gái trinh trắng đã anh dũng ngã xuống để cho những đoàn quân từ hậu phương nối liền với tiền tuyến.
"42.900 quả bom phá, 12.000 quả bom từ trường, 96 bom bi... đã đổ xuống đây, tính bình quân 1m2 phải hứng chịu 3 quả bom. Chiều ngày 24.7.1968, máy bay địch đã dội xuống ngã ba này 60 quả bom tấn, 10 cô gái thanh niên xung phong đã ngã xuống...", giọng cô hướng dẫn viên nghẹn lại. Khói hương nghi ngút, trong đoàn khách có người nén tiếng thở dài, khóe mắt rưng rưng. Khu mộ của Tần, Cúc, Nhỏ, Hà, Hợi, Hường, Rạng, Xanh và hai người tên Xuân nằm ở lưng đồi xanh bóng cây. Di ảnh được lau chùi sạch sẽ, bát hương không còn chỗ cắm phần nào cho thấy nơi nghỉ của các chị được chăm sóc khá chu đáo. Nhìn những gương mặt trẻ măng trong ảnh, chợt những chi tiết trong bộ phim Ngã ba Đồng Lộc cứ hiện về rõ mồn một. Sự hy sinh anh hùng đó mọi thế hệ mãi mãi không quên. Hai cây bồ kết đang trổ hoa như thay lời nhà thơ Vương Trọng gửi đến hương hồn các chị:
"Chúng tôi chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm trong mộ rồi mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết Hương chia đều trong hư ảo khói nhang"
Ngay bên cạnh lối vào khu mộ tưởng niệm là hố bom như dấu tích cho những ngày ác liệt năm xưa. Cách đó vài trăm mét là nhà trưng bày, sa bàn tái hiện hình ảnh những cô gái, chàng trai thanh niên xung phong anh hùng xả thân giữa những trận ném bom giữ vững con đường huyết mạch cho xe ra tiền tuyến.
Tháng 7 này, cả nước đang hướng về kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ 27.7. Ngã ba Đồng Lộc là điểm đến mà du khách khó quên. Từ ngã ba Đồng Lộc, du khách còn có thể ghé tham quan mộ đại thi hào Nguyễn Du và khu lưu niệm dòng họ Nguyễn Tiên Điền nổi tiếng. Đến Hà Tĩnh cũng thật khó bỏ qua những danh thắng như chùa Hương Tích với tên gọi "Hoan châu đệ nhất danh lam", Đài Trang Vương 99 bậc tương truyền là nơi đầu tiên vua Kinh Dương Vương lập đô, khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang...
(Theo Thanh NIên online - Đồng Văn)

Read More...

Côn Đảo - Một lần và mãi mãi

Thế là tạm biệt Sài Gòn, tạm biệt em yêu và Bo trong 3 ngày để đến Côn Sơn - hòn ngọc Viễn Đông, đến với một vùng một thời với nhiều đau thương, đến để ngắm để nghe và để cảm nhận những giá trị đích thực của vùng thiên nhiên còn tươi nguyên nét hoang dã mà hiếm khi nào có được khi con người đã khai phá thiên nhiên... và đến để biết nguồn gốc của bài thơ về loài ốc đặc trưng nơi đây - "Ốc vú nàng".
Ai đi đến Côn Đảo thường có những cảm nhận khác nhau nhưng có lẽ cho dù chỉ đến một lần nhưng sẽ mãi mãi không bao giờ quên.

Lại là ATR-72
Mình đã đi ATR-72 đến Phú Quốc nên cũng không lạ lẫm gì với anh chàng này. Chỉ tội mấy em bé khi máy bay rú lên, xoải cánh trên đường băng vụt lên thì tự nhiên khóc ré lên làm bà con trong chuyến bay một thoáng giật mình.
Chiếc máy bay của dịch vụ bay Việt Nam chỉ mất 45 phút từ thành phố Bác đến với Côn Đảo,từ xa xa những đốm mây trắng bồng bềnh, trắng xóa nhưng cũng không đủ để lấp đầy tầm nhìn của du khách từ trên không. Chao một vòng, chiếc máy bay lượn thật thấp trên mặt biển bao la để nhìn thấy cảnh hòn đảo tuyệt đẹp, để rồi đến với sân bay Cỏ Ống (sân bay dã chiến từ thời Mỹ ngụy).
Một ngày, có đến 2 lượt máy bay ra vào như thế.
Thời tiết khá nóng và hướng dẫn viên khách sạn lịch sự đón tại ngay phi trường.
Thế là đến Côn Đảo rồi nhé!!! Nào lên xe!!!

Xe vận chuyển
Có lẽ việc đem nhưng chiếc xe du lịch ra đây phải là một kỳ công. Trừ những xe công vụ của chính quyền thì về du lịch chắc có khoảng được 1 chiếc 30 chỗ, 4 hay 5 chiếc 15 chỗ là hết.
Không taxi.
Không bus.
Không thấy xe tải (cái đó là tui nói à!!!)
Có lẽ thế nên không khí ở đây trong lành (cả thở ra hít vào và tiếng ồn).
Ở đảo lực lượng xe ôm tuy không nhiều (khoảng 5-10 xe) nhưng cũng đủ để giúp ta đi dạo một vòng đảo. Nói một vòng cho vui chứ đó là 1 con đường từ sân bay đi qua thị trấn rồi xuống Hòn Bà nữa là hết (Đi xe máy chỉ có 30 phút là hết đảo. Game over).
À nữa! Ai muốn mướn xe thì vô tư, giá cả cũng mềm mại.
"Xe điện!!!" - Tôi bật reo lên cứ như thấy vàng.
Mình bờm quá. Xe 30 chỗ còn đem ra được thì ba cái đồ quỷ này là gì!
Khách sạn cho thuê chạy lòng vòng ban đêm xem chừng rất lãng mạng với những cặp tình nhân. Chỉ tiếc là chưa có xe đạp đôi. Biết đâu lần sau có ra thì cũng có!!!
Có một điều rất lạ và đặc biệt là trên đảo không bao giờ bị mất xe, bạn cứ để xe máy ngoài đường không cần khóa nhưng cũng không mất Nếu không thấy thì nó cũng loanh quanh trong thị trấn mà thôi. Muốn biết cụ thể cứ ra mà tìm hiểu nhé!!!

Khách sạn
Có thể nói ngoại trừ nhà nghỉ ra thì số khách sạn, resort đúng nghĩa chỉ là... 3 cái.
Mình được nghị tại khách sạn Sài Gòn Côn Đảo (thế mà đọc bằng tiếng Anh "SAI GON CON DAO ghi trong cái khăn lót bàn cứ tưởng "Sài Gòn còn dao" mới ghê.
Khách sạn được công nhận 3*** nằm tọa lạc trước trại Phú Hải đã nổi rêu mốc trên những tường gạch cũ sì. Phía trước tầm nhìn phóng thẳng ra biển, con đường chính của đảo phóng ngang trước mặt dẫn mắt ta đến Cầu tàu 914 - nơi mà đã có chừng ấy con người cả dân, cả chiến sĩ cách mạng đã bỏ mình khi phải khuân đá từ Núi Chúa đến đây.
Ngoài dãy phòng chính 4 tầng, dãy resort 2 tầng thì nếu ai muốn ở trong những villa nhỏ theo kiểu gia đình thì khách sạn cũng phục vụ với giá phải chăng.

Nhà tù và chuồng cọp
Đến Côn Đảo mà không đến nhìn tận mắt hệ thống nhà tù ghê rợn của thực dân Pháp và Mỹ ngụy thì coi như là chưa biết nơi đây.
Em gái hướng dẫn viên khá xinh xắn của bảo tàng Côn Đảo sau khi thuyết minh xong lịch sử Côn Đảo thì dẫn cả đoàn vào những di tích nhà tù như trại Phú Hải, trại Phú Tường... Nào là chuồng cọp kiểu Pháp với những trận mưa vôi bột lên đầu tù nhân rồi xối nước, nào là chuồng cọp Mỹ với cái nóng ngột ngạt khiến người ta không thể thở và phải nằm sống chung với chất thải của mình ròng rã trong cả tháng trời... Thật khó tả cảm nhận của mình và cả đoàn lúc đó, chỉ có thể nói rằng "Không thể tưởng tượng".
Không thể tưởng tượng là kẻ thù lại có những thủ đoạn dã man để đối xử với con người như thế.
Không thể tưởng tượng được rằng cho dù khủng khiếp đến thế mà tinh thần của người chiến sĩ cách mạng lại cao và bất khuất đến vậy.
Thế mới biết "Nhà tù chính là trường học cách mạng" là thế!!!

Nghĩa trang Hàng Dương
Xế chiều đoàn vào nghĩa trang Hàng Dương thắp hương tưởng niệm hơn 20 ngàn đồng bào chiến sĩ đã hy sinh tại Côn Đảo dưới sự đày đọa của nhà tù địch. Những nấm mồ rải rác, không theo thứ tự, từng lớp từng lớp, có những mộ không tên, những mộ tập thể chồng lấp lên nhau... tạo cảm giác lành lạnh trong buổi chiều mà ánh nắng như xé thẳng vào lòng người đến đây.
Tiêu biểu trong hàng vạn ngôi mộ tại đây là mộ của đồng chí Lê Hồng Phong, mộ của chí sĩ Nguyễn An Ninh và mộ của chị Võ Thị Sáu mà ta thường gọi (ở đây người dân thường gọi là Cô Sáu).
Đứng xa xa là một tượng đài chọc thẳng lên trời cao với những phù điêu miêu tả cảnh tù đày. Một góc nghĩa trang xa xa, trong thấp thoáng những hàng phượng vĩ sắc thắm đỏ tháng 6, hình ảnh 3 nén hương nổi rõ trên nền trời như muốn tri ân với những người đã khuất.

Ốc vú nàng
Có thể tên ốc một số địa phương khác cũng có nhưng đã đến Côn Đảo 10 người thì hết 9 hỏi ăn ốc vú nàng ở đâu. Bạn có thể đến quán Tri Kỷ (nho nhỏ thôi) cũng có thể thưởng thức được vị là lạ của ốc. Đâu đó trong dân gian có nhưng câu thơ của những bạn tù truyền nhau về con ốc này.
"Ai qua đất thắm Bãi Bàng
Hỏi thăm Ông Đụng vú nàng ở đâu
Vú nàng ở tận Ông Câu
Tù ăn đỡ đói thù cao ngất trời"

Nhưng đâu đó khi chiến tranh qua đi, lại có truyền khẩu thêm 4 câu nữa (nếu có sai hay còn nữa thì ai đó chỉ hộ)

"Ai qua đất thắm Bãi Bàng
Hỏi thăm Ông Đụng vú nàng lớn chưa
Chàng hỏi thì thiếp xin thưa
Vú nàng đã lớn nhưng chưa ai... (3 chấm thông thái, tự điền từ thích hợp)

Hòn Bảy cạnh và Vích
Đến Côn Đảo, bằng mọi giá bạn phải lên tàu đáy kính (như Nha Trang ấy) ra Hòn Bảy cạnh. Con tàu lướt từng đợt sóng đưa bạn qua dãy bảo tồn san hô đến với bãi tắm tiên (vì không có chỗ thay đồ đâu đó nha).
Bạn có thể thấy thiên nhiên khá hoang sơ với những vệt dài trên cát chính là vết chân vích (rùa biển) lên bờ đẻ trứng. Trứng vích màu trắng như trái bóng bàn và được bảo quản khá nghiêm ngặt, ai mà ăn thì sẽ bị phạt 2 triệu đồng (cẩn thận nhé bà con).

Chia tay và hẹn gặp lại
3 ngày trên hòn đảo ngọc thật thú vị và đầy ý nghĩa. Ở đâu đó trong tâm thức của mỗi người Việt Nam chúng ta khi đến đây cũng đọng lại nhiều điều suy nghĩ cho bản thân trong cuộc sống hiện tại.

Đến với Côn Đảo - một lần để thương.
Đến với Côn Đảo - một lần để nhớ.
Đến với Côn Đảo - một lần để suy gẫm.
Đến với Côn Đảo - để mãi mãi không bao giờ quên.

AQ2
(Kỷ niệm chuyến Côn Đảo 17 - 19/6/2009)

Read More...

Bến Nhà Rồng - Bảo tàng Hồ Chí Minh tại TP. Hồ Chí Minh

Bến Nhà Rồng
Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, là một trong những Bảo tàng thuộc Sở Vǎn hóa Thông tin TP. Hồ Chí Minh, và là một chi nhánh nằm trong hệ thống các Bảo tàng và di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước.
Nơi đây, trước ngày 30.4.1975 là trụ sở của Tổng Công ty Vận tải Hoàng Đế (Messageries Impériales) - một trong những công trình đầu tiên do thực dân Pháp xây dựng sau khi chiếm được Sài Gòn. Ngôi nhà được xây dựng từ giữa nǎm 1862 đến cuối nǎm 1863 hoàn thành với lối kiến trúc phương Tây nhưng trên nóc nhà gắn hai con rồng châu đầu vào mặt trǎng theo mô típ "lưỡng long chầu nguyệt", một kiểu trang trí quen thuộc của đền chùa Việt Nam. Với kiến trúc độc đáo đó nên Tổng Công ty Vận tải Hoàng Đế được gọi là Nhà Rồng và bến cảng mang tên Bến Cảng Nhà Rồng. Nǎm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại, thương cảng Sài Gòn được chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý, họ đã tu sửa lại mái ngói ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng mới với tư thế quay đầu ra ngoài.
Trong những nǎm đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng ngôi nhà làm trụ sở của cơ quan tiếp nhận viện trợ quân sự Mỹ. Nǎm 1975, sau khi đất nước thống nhất, Nhà Rồng - biểu tượng của Cảng Sài Gòn thuộc Cục đường biển Việt Nam quản lý.
Để ghi nhớ lại sự kiện ngày 5/6/1911, Bác Hồ (lúc bấy giờ là Nguyễn Tất Thành, lấy tên Vǎn Ba) đã xuống tàu Amiral Latouche Tréville từ bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước, Nhà Rồng được giữ lại làm Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 2/9/1979, nhân kỷ niệm 10 nǎm thực hiện Di chúc của Người, nơi đây đã mở cửa đón khách tham quan phần trưng bày về "Sự nghiệp tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh 1890 - 1945", ngày 20/9/1982, ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ra Quyết định số 236/QĐ-UB thành lập "Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh". Sau hơn 10 nǎm hoạt động, ngày 30/10/1995, ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ra Quyết định số 7492/QĐ-UB-NCVX chính thức chuyển "Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh" thành "Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh". Bảo tàng có nhiệm vụ nghiên cứu sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp Cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt nhấn mạnh sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và mối quan hệ của Bác đối với nhân dân Sài Gòn và nhân dân miền Nam Việt Nam.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, với 03 phòng trưng bày (250m2), sau hai lần chỉnh lý (1990, 1995) lúc này đã có 09 phòng với 1482,62 m2 diện tích trưng bày; 02 phòng kho chứa 10.927 tài liệu, hiện vật và 450 hiện vật trưng bày ngoài trời. Trong 09 phòng trưng bày hiện tại, có 06 phòng trưng bày những chuyên đề cố định bao gồm những tư liệu, hiện vật, hình ảnh liên quan tới tiểu sử, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; 03 phòng trưng bày chuyên đề thời sự, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị tuyên truyền trong từng thời gian nhất định. Từ nǎm 1995 đến nay, đơn vị đã tổ chức trưng bày 20 chuyên đề mang tính thời sự tại Bảo tàng và 16 cuộc trưng bày lưu động tại các vùng sâu vùng xa, các quận huyện ngoại thành. Tất cả các phòng trưng bày sau những lần chỉnh lý đều được nâng lên cả về nội dung và hình thức, phối hợp nhiều yếu tố trong khâu trưng bày tạo tính hấp dẫn đối với người xem. Ngoài những hoạt động chính, Bảo tàng còn tiến hành những hoạt động tuyên truyền giáo dục rộng rãi như tổ chức các Hội nghị khoa học, các cuộc tọa đàm giữa các thế hệ, nói chuyện chuyên đề về Chủ tịch Hồ Chí Minh, giới thiệu và chiếu phim, tư liệu, hồi ký, các ấn phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh và về Bảo tàng, in lịch, tổ chức kết nạp Đảng, Đoàn, Đội; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về tiểu sử, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh..., Bảo tàng còn là nơi hội họp, gặp gỡ lý tưởng của các tổ chức, đoàn thể đến sinh hoạt truyền thống, học tập, vui chơi; là nơi ra quân của nhiều phong trào cách mạng sôi nổi của Thành phố...
Trong hơn 20 nǎm hoạt động, Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đã đón tiếp gần 20 triệu lượt khách từ khắp nơi trong nước và nước ngoài đến tham quan. Đặc biệt có hàng trǎm đoàn nguyên thủ quốc gia và đoàn cao cấp các nước đến thǎm viếng tìm hiểu, nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ 400 tư liệu, hiện vật (nǎm 1980) đến nay đã có 11.372 tư liệu, hiện vật và 3300 đầu sách chuyên đề về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ riêng từ đầu nǎm đến nay, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng vận động nhân dân hiến tặng 2093 tư liệu.
Với sự nỗ lực phấn đấu vươn lên không mệt mỏi và lòng mến khách, yêu nghề của CB.CNV Bảo tàng đã để lại những tình cảm tốt đẹp trong lòng khách tham quan và nhân dân miền Nam. Với những thành tích như trên, liên tục từ nǎm 1992 đến nay, Bảo tàng luôn nhận được bằng khen của Bộ Vǎn hóa Thông tin; của UBND TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt 5 nǎm liền từ 1992 - 1996, Bảo tàng vinh dự được Chủ tịch nước tặng huân chương lao động hạng III; nǎm 1998 nhân dịp kỷ niệm 300 nǎm Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh, Nhà Rồng đã được chọn làm biểu tượng của Thành phố, đồng thời UBND Thành phố đã phối hợp với Hiệp hội LYON của Pháp đầu tư trang thiết bị hệ thống chiếu sáng nghệ thuật cho Bảo tàng, công trình đã khánh thành vào ngày 21/11/1998, làm nổi bật một cách hài hòa các khối kiến trúc đem lại sức sống, nǎng động cho Ngôi nhà Rồng về đêm.
Nhân kỷ niệm 90 nǎm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2001), UBND TP. Hồ Chí Minh đã đầu tư việc xây dựng mở rộng Bảo tàng; và xây dựng tượng Nguyễn Tất Thành, chỉnh trang nhà Rồng. Trong đề án chương trình mục tiêu phát triển từ nay đến nǎm 2005, ngoài các hoạt động thường xuyên, đơn vị tập trung cải tạo nâng cấp mở rộng diện tích trưng bày; chỉnh lý lớn các phòng trưng bày cố định, tập trung xây dựng những chuyên đề mang đặc trưng của một Bảo tàng Chi nhánh phía Nam như chủ đề "Bác Hồ với miền Nam - miền Nam với Bác Hồ". Trong thời gian trước mắt (2001 - 2005) thực hiện hoàn chỉnh công tác tin học hóa công tác trưng bày và quản lý kho tư liệu, hiện vật. Đẩy mạnh việc triển khai công nghệ thông tin trong các hoạt động nghiệp vụ, thực hiện nối mạng với Sở Vǎn hóa Thông tin, tiến tới nối mạng trao đổi thông tin tư liệu với Cục Bảo tồn Bảo tàng, với các Bảo tàng và di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng đề án "Mô hình khung cảnh khu vực Cảng Sài Gòn những nǎm 1911" (ngoài trời) cùng việc phục chế chiếc tàu AMIRAL LATOUCH TREVILL mà ngày 5/6/1911 Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước nhằm làm sinh động, phong phú hơn hình thức trưng bày của Bảo tàng và tạo ấn tượng cảm xúc trực quan gây sự hấp dẫn khách vào tham quan, định hướng phát triển và phối hợp với ngành Du lịch, tạo sự thu hút đối với khách du lịch trong và ngoài nước.
Địa chỉ: Bảo tàng Hồ Chí Minh - Số 01 Nguyễn Tất Thành, Phường 12, Quận 4, TP. Hồ Chí Minh
(Nguồn Trang web Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam)

Read More...