Đền Hùng - Phú Thọ

"Dù ai đi ngược về xuôi.
Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3"
Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích - xã Hy Cương - huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ, là nơi thờ cúng các vua Hùng đã có công dựng nước, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Đền Hùng cách trung tâm thành phố Việt Trì 7 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90 km. Từ Hà Nội, du khách có thể đến Đền Hùng bằng đường bộ theo quốc lộ 2 hoặc tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai.
Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng - thuộc đất Phong Châu - vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ.
Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng (còn gọi là núi Cả theo tiếng địa phương hay còn có nhiều tên gọi khác nhau: Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn,…), có độ cao 175 m so với mặt nước biển. Tục truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam , mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo,…. Núi Vặn cao 170m, xấp xỉ núi Hùng. Núi Trọc nằm giữa núi Hùng và núi Vặn, cao 145 m. Ba đỉnh núi: núi Hùng, núi Vặn, núi Trọc theo truyền thuyết là ba đỉnh “Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời.
Toàn khu di tích Đền Hùng xưa kia là rừng già nhiệt đới, đến nay chỉ còn núi Hùng là rậm rạp xanh tươi với 150 loài thảo mộc thuộc 35 họ, trong đó còn sót lại một số cây đại thụ như chò, thông, lụ,…và một vài giống cây cổ sơ như kim giao, thiên tuế,..
Từ chân núi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng lần lượt các di tích kiến trúc như:

Cổng đền
Được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1917). Cổng xây kiểu vòm cuốn cao 8,5m, hai tầng 8 mái, lợp giả ngói ống. Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc tầng mái trang trí Rồng, đắp nổi hai con Nghê. Giữa cột trụ và cổng đắp nổi phù điêu hai võ sỹ, một người cầm giáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp, ngực trang trí hổ phù. Giữa tầng một có đề bức đại tự: “Cao sơn cảnh hành” (lên núi cao nhìn xa rộng). Còn có người dịch là “Cao sơn cảnh hạnh” (Đức lớn như núi cao). Mặt sau cổng đắp hai con hổ là hiện thân vật canh giữ thần.

Đền Hạ
Tương truyền nơi đây, Mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con trai, nguồn gốc “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây. Dấu tích giếng “Mắt Rồng” là nơi mẹ Âu Cơ ấp trứng nay vẫn còn ở phía sau đền.
Đền Hạ được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII - XVIII. Kiến trúc kiểu chữ “nhị” gồm hai toà tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m. Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dài hơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, một bên voi, một bên ngựa. Bờ nóc phẳng, không trang trí mỹ thuật. Mái lợp ngói mũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn.
Ngay chân Đền Hạ là Nhà bia với kiến trúc hình lục giác, có 6 mái. Trên đỉnh có đắp hình nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng xi măng, có 6 cột bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can. Trong nhà bia trước đây đặt tấm bia ghi lại việc tu sửa đường lên núi Hùng, hiện nay đặt bia đá, nội dung ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1945:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Gần Đền Hạ có một ngôi chùa, xưa có tên là Sơn cảnh thừa long tự, sau đổi là Thiên quang thiền tự. Chùa được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các nhà: tiền đường (5 gian), thiêu hương (2 gian), tam bảo (3 gian) ở phía trước, dãy hành lang, nhà Tổ ở phía sau. Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lập ngói mũi, đầu đao cong. Bờ nóc tiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa.
Trước cửa chùa có cây thiên tuế là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với cán bộ và chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Trước sân chùa có 2 tháp sư hình trụ 4 tầng. Trên nóc đắp hình hoa sen. Lòng tháp xây rỗng, cửa vòm nhỏ. Trong tháp có bát nhang và tấm bia đá khắc tên các vị hoà thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa.
Chùa còn có một gác chuông được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm 3 gian, 2 tầng mái, 4 vì kèo cột kiểu chồng giường kết hợp với bẩy lẻ. Các bẩy lẻ hầu như để trơn không chạm trổ gì. Trên gác chuông có treo quả chuông, không ghi niên đại đúc chuông mà chỉ ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây dạo Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện, Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cư phụng”. Qua đó có thể đoán quả chuông được đúc thời Hậu Lê.

Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu)
Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắm cảnh thiên nhiên và họp bàn việc nước. Nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôi cho Lang Liêu - người con hiếu thảo vì đã có công làm ra bánh chưng, bánh dày.
Đền được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian quay về hướng nam, dài 7,2m, rộng 3,7m. Mái hiên cao 1,8m, không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường, bít đốc tường hậu, phía trước mở 3 cửa.

Đền Thượng và Lăng Hùng Vương
Đền Thượng được đặt trên đỉnh núi Hùng. Tương truyền rằng thời Hùng Vương, Vua Hùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Tục truyền đây còn là nơi vua Hùng thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc Ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi, về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ cúng. Đền Thượng có tên chữ là “Kính thiên lĩnh điện” (Điện cầu trời) còn có tên là “Cửu trùng tiên điện” (Điện giữa chín tầng mây). Trong Đền Thượng có bức đại tự đề “Nam Việt triệu tổ” (Tổ khai sáng nước Việt Nam). Đền được làm kiểu chữ Vương, kiến trúc đơn giản, kèo cầu, không có chạm trổ, được xây dựng qua bốn cấp khác nhau gồm: nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II), tiền tế (cấp III) và hậu cung (cấp IV).
Bên phía tay trái Đền có một cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m, hình vuông. Đến năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệ như hiện nay.
Lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa là mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (1922) trùng tu lại. Lăng hình vuông, cột liền tường, có đao cong 8 góc, tạo thành 2 tầng mái. Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng tư thế bò, tầng trên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu”. Mái đắpngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù. Ba mặt Tây, Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều đắp kỳ lân, xung quanh có tường bao quanh, trang trí hoa, chất liệu bằng đá. Trong lăng có mộ Vua Hùng. Mộ xây hình hộp chữnhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m. Mộ có mái mui luyện. Phía trong lăng có bia đá ghi: Biểu chính (lăng chính). Phía trên ba mặt lăng đều có đề: Hùng Vương lăng (Lăng Hùng Vương).

Đền Giếng (tên chữ là Ngọc Tỉnh)
Tương truyền là nơi hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Hai bà có công dạy dân trồng lúa nước và trị thuỷ nên được nhân dân lập đền thờ phụng muôn đời. Đền được xây dựng vào thế kỷ XVIII, theo hướng Đông Nam, kiến trúc kiểu chữ công, gồm nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3 gian), 1 chuôi vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối tiền bái với hậu cung.
Cổng Đền Giếng được xây vào thế kỷ XVIII, kiểu dáng gần giống cổng chính nhưng nhỏ và thấp hơn. Cổng xây theo kiểu kiến trúc 2 tầng 8 mái. Tầng dưới, giữa có một cửa xây kiểu vòm, hai bên có hai cột trụ trên lắp nghê chầu. Tầng trên giữa cổng có bức đại tự đề: “Trung sơn tiểu thất” (ngôi miếu nhỏ trong núi). Hai bên có đề câu đối và tượng hai võ sỹ. Mặt sau cổng đắp hổ, mỗi con một bên.

Đền Tổ mẫu Âu Cơ
Được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và khánh thành tháng 12/2004. Đền được xây dựng trên núi ốc Sơn (núi Vặn) theo kiến trúc truyền thống với cột, xà, hoành, dui bằng gỗ lim, mái được lợp bằng ngói mũi hài, tường bằng gạch bát. Đền chính có diện tích 137m2, làm theo kiểu chữ Đinh. Bên cạnh đền chính có nhà Tả vũ, nhà Hữu vũ, nhà Bia, Trụ biểu, Tứ trụ, cổng Tam quan, nhà tiếp khách và hoa viên.
Trong đền có tượng thờ Mẹ Âu Cơ và hai Lạc hầu, Lạc tướng. Đường đi lên đền được xây bằng 553 bậc đá Hải Lựu.

Bảo tàng Hùng Vương
Bảo tàng Hùng Vương được khởi công xây dựng vào năm 1996 và được khánh thành đúng ngày khai hội Đền Hùng năm Quý Mùi (2003) do Tổng Bí thư Đỗ Mười cắt băng khánh thành. Với gần 700 hiện vật gốc trên tổng số hơn 4.000 hiện vật có trong Bảo tàng, 162 bức ảnh, 4 bức tranh gốm, 5 bức tranh sơn mài, 9 bức gò đồng, 5 hộp hình, một nhóm tượng lớn và nhiều hiện vật khác được trưng bày đã khắc hoạ chủ đề tổng quát: “Các Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịch sử”.
Phần trưng bày của Bảo tàng Hùng Vương được tập trung vào 3 chủ đề chính:
- Giới thiệu giai đoạn văn hoá Hùng Vương bằng các hiện vật liên quan đến thời đại Hùng Vương tìm được trên đất Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
- Giới thiệu việc hình thành khu di tích Đền Hùng và ý thức xây dựng khu di tích Đền Hùng của nhân dân cả nước.
- Tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của người đứng đầu Nhà nước phong kiến trước đây, của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng ngày nay đối với Đền Hùng.

Đền Hùng vừa là thắng cảnh đẹp, vừa là một di tích lịch sử - văn hóa đặc biệt quan trọng đối với người Việt Nam. Về với Đền Hùng là về với cội nguồn dân tộc, để tự hào về dòng giống tiên rồng đang chảy trong huyết mạch của mỗi người dân Việt Nam!
(Theo PhuTho online)

Read More...

Văn Miếu - Quốc Từ Giám (Hà Nội)

Văn Miếu - Quốc Tử Giám là trường học cổ của kinh thành Thăng Long và là trường đại học đầu tiên ở vùng Đông Nam Á. Văn Miếu không những là một di tích lịch sử - văn hoá cổ kính, mà còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá, khoa học đậm đà bản sắc dân tộc của thủ đô Hà Nội.
Văn Miếu được xây dựng tháng 8 năm Canh Tuất, tức tháng 10 năm 1070 (đời vua Lý Thánh Tông) là nơi thờ các thánh hiền đạo nho (Khổng Tử, Mạnh Tử...). Sáu năm sau (1076), Lý Nhân Tông lập thêm Quốc Tử Giám ở kề phía sau, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả những học trò giỏi trong thiên hạ. Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch Bát Tràng. Bên trong có những lớp tường ngăn thành năm khu. 
Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính. Trên cổng có chữ Văn Miếu Môn, dưới cổng có đôi rồng đá mang phong cách thời Lê Sơ (thế kỷ XV).
Lối đi ở giữa dẫn đến cổng Đại Trung Môn mở đầu cho khu thứ hai. Hai bên còn có hai cổng nhỏ có tên là Thành Đức và Thành Đạt. Vẫn lối đi ấy dẫn tới Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của sao khuê, sao chủ về văn học). Hai bên gác có hai cổng nhỏ có tên là Súc Văn và Bí Văn (Văn hàm súc và Văn sáng đẹp).Khu thứ ba từ gác Khuê Văn tới Đại Thành Môn. Ở giữa khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (Giếng trời trong sáng) có tường hoa bao quanh. Hai bên là khu nhà bia (nơi dựng bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ). Hiện nay có 82 bia, xưa nhất là bia ghi khoa Đại Bảo thứ ba (năm 1442), muộn nhất là bia Cảnh Hưng thứ 40 (năm 1779). Đó là những di vật quý nhất của khu di tích này.
Bước qua cửa Đại Thành là tới khu thứ tư. Một sân rộng, hai bên là hai dãy nhà tả vu, hữu vu, vốn dùng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà Đại Bái, kiến trúc đẹp và hoành tráng.
Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái có chuông Bích Ung đại chung (chuông lớn của nhà Giám) do Nguyễn Nghiễm đúc năm 1768; bên phải có một tấm khánh đá, mặt trong có hai chữ Thọ Xương, mặt ngoài khắc bài minh viết kiểu chữ lệ, nói về công dụng của loại nhạc khí này. Tiếp sau Đại Bái là Hậu Cung nơi đặt tượng Khổng Tử và bốn môn đệ là Nhan Tử, Tăng Tử, Mạnh Tử, Tử Tư. Sau khu Đại Bái vốn là trường Quốc Tử Giám thời Lê, khi nhà Nguyễn chuyển trường này vào Huế thì ở đây dựng đền Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử. Năm 1947, giặc Pháp đã đốt trụi khu này.
Ngày nay, thành phố Hà Nội đã lập tại đây "Trung tâm hoạt động văn hoá - khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám" để phát huy tác dụng của di tích. Đặc biệt trong năm 1999, thành phố đã khởi công xây dựng lại nhà Thái Học, một trong những công trình lớn chào mừng 990 Thăng Long - Hà Nội.
(Nguồn HaNoi online)

Read More...

Văn Miếu Trấn Biên - Đồng Nai

17 năm sau khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu vào xác lập nền hành chính của vùng đất mới phương Nam, văn miếu Trấn Biên được xây dựng (1715). Theo “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, ngoài Thăng Long- Hà Nội (Văn miếu Quốc tử giám, 1070), văn miếu được xây dựng ở nhiều nơi trong cả nước, nhưng văn miếu Trấn Biên là văn miếu được xây dựng sớm nhất ở phía Nam, trước văn miếu Vĩnh Long, Gia Định và cả văn miếu kinh đô Huế.Theo “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức biên soạn vào đầu thế kỷ XIX (bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, xuất bản năm 1972), Văn miếu Trấn Biên được xây dựng tại thôn Tân Lại, huyện Phước Chánh (nay thuộc phường Bửu Long, TP. Biên Hòa) vào đời vua Hiển Tông năm Ất Vị thứ 25 (tức năm 1715). Văn miếu Trấn Biên đã qua hai lần trùng tu vào năm Giáp Dần (1794) và năm Tự Đức thứ 5 (1852). Theo mô tả của sử sách, văn miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp, “nơi đây núi sông thanh tú, cỏ cây tốt tươi... Bên trong rường cột chạm trổ, tinh xảo... Trong thành trăm hoa tươi tốt, có những cây tòng, cam quýt, bưởi, hoa sứ, mít, xoài, chuối và quả hồng xiêm đầy rẫy, sum sê, quả sai lại lớn”.

Văn miếu Trấn Biên được xây dựng trong bối cảnh vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đã khá ổn định về chính trị, phát triển kinh tế- xã hội (có Nông đại đại Phố, có dinh trấn...) như một sự xác lập vị thế địa văn hóa-chính trị của vùng đất; đồng thời là sự tiếp nối văn miếu Thăng Long và truyền thống trọng học, trọng trí thức nhân tài của tổ tiên trải qua nhiều thế kỷ xây dựng quốc gia tộc lập tự chủ. Gắn liền với văn miếu Trấn Biên là một nền giáo dục phát triển khá sớm ở Biên Hòa- Đồng Nai lúc bấy giờ. Và trên nền giáo dục ấy cũng đã sản sinh ra những tên tuổi làm rạng rỡ vùng đất phương Nam, đồng thời tô điểm thêm truyên thống văn hóa ngàn năm của dân tộc ta như: Võ Trường Toản, Trịnh Hòai Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Nguyễn Đình Chiểu...
Do thời gian và những biến cố lịch sử, văn miếu Trấn Biên bị tàn phá không còn lại dấu vết (theo “Biên Hòa sử lược” của nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu, năm 1861 khi tiến chiếm Biên Hòa, quân Pháp đã đốt phá văn miếu Trấn Biên), người đời nay chỉ hình dung văn miếu chỉ hình dung văn miếu Trấn Biên xưa qua sử sách. Song với những gì được mô tả và người đời lúc bấy giờ xưng tụng, người Biên Hòa – Đồng Nai hôm nay rất đỗi tự hào về ngôi đền văn miếu của mình.
Nằm trong kế hoạch xây dựng các thiết chế văn hóa ở Đồng Nai, nhân kỷ niệm 300 năm Biên Hòa – Đồng Nai, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo xây dựng lại văn miếu Trấn Biên. Lễ khởi công diễn ra vào ngày 9-12-1998 và khánh thành công trình giai đoạn 1 vào ngày mùng 3 Tết Nhâm Ngọ 2002 (nhằm ngày 14-2-2002). Trong dịp kỷ niệm 290 năm văn miếu Trấn Biên, các công trình giai đoạn 2 tiếp tục được xây dựng và mở rộng thêm diện tích.
Việc phỏng dựng lại văn miếu Trấn Biên không chỉ là việc làm hướng về cội nguồn, truyền thống đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân mà còn gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa để “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” như Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) của Đảng đã đề ra.
Văn miếu Trấn Biên được xây dựng lại theo hình thức truyền thống nhưng thể hiện biểu trưng mới về văn hóa giáo dục và tinh thần trọng việc học hành theo quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta. Văn miếu là nơi bảo tồn, gìn giữ và tôn vinh các giá trị văn hóa giáo dục xưa và nay của dân tộc và của địa phương; đồng thời là một thiết chế văn hóa, du lịch gắn với khu danh thắng Bửu Long đã được công nhận là di tích quốc gia. Do vậy, ngoài việc thờ phụng các danh nhân văn hóa – giáo dục xưa và nay, Văn miếu Trấn Biên còn là nơi tổ chức lễ báo công, tuyên dương tài năng trên các lĩnh vực. Thực tế từ khi khánh thành (năm 2002) đến nay, Văn miếu Trấn Biên là nơi thường xuyên diễn ra các lễ viếng các bậc tiền nhân, tổ chức tuyên dương, khen thưởng, báo công những thành tích đặc biệt trên các lĩnh vực mà Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đạt được, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục. Ngoài ra, văn miếu cũng là nơi đón nhiều đoàn khách trong và ngoài tỉnh cũng như các đoàn khách quốc tế khi đến thăm Đồng Nai.
Với hình thức, nội dung và hoạt động mới như vậy, có thể nói Văn miếu Trấn Biên còn là động lực tinh thần lớn lao thể hiện khát vọng vươn lên về trí tuệ và tài năng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà; quyết tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần phong phú, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.
(Nguồn Đồng Nai online)

Read More...

Hội trường Thống Nhất

Vị trí: 106 Nguyễn Du, quận 1,Tp. Hồ Chí Minh.
Ðặc điểm: Trước đây vào năm 1873 trên nền đất này là một toà biệt thự tên gọi là dinh Nôrôđôm- dinh của toàn quyền Ðông Dương ở Sài Gòn.
Năm 1954 Tổng thống nguỵ quyền Ngô Ðình Diệm và đại gia đình họ Ngô đã ở và làm việc ngay trong dinh Nôrôđôm. Ðến 27/2/1962 dinh Nôrôđôm bị máy bay ném bom hư hỏng nặng. Diệm đã cho phá huỷ toàn bộ dinh Nôrôđôm, xây dựng một dinh mới hoàn toàn gọi là dinh Ðộc Lập.
Dinh có diện tích sử dụng 4500m2 trên khuôn viên đất rộng 120.000m2 gồm 1 tầng hầm, 3 tầng chính, 2 tầng lửng, 1 sân thượng và lầu nghỉ mát gọi là lầu Tứ Phương. Dinh có 100 phòng, mỗi phòng có cách bài trí riêng theo nội dung từng phòng. Phòng khánh tiết có sức chứa 800 người... Dinh còn có 2 nhà triển lãm với tổng diện tích 2.000 m2, một khu nhà khách 33 phòng , nhà phát điện dự phòng công suất 350 KVA và nhiều điểm dịch vụ vui chơi giải trí khác như sân tennis, khu nhà sàn Tây Nguyên...
11h30' ngày 30/4/1975 xe tăng quân giải phóng đã tiến thẳng vào dinh Ðộc Lập, chính phủ Ngụy gồm 45 người cùng tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.
Sau ngày giải phóng, dinh Ðộc Lập là trụ sở của Uỷ ban quân quản thành phố. Hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước đã họp ở đây vào tháng 12/1975 và dinh Ðộc Lập đã được đổi tên thành Hội trường Thống Nhất. Ngày nay, hội trường Thống Nhất đã trở thành khu di tích lịch sử văn hoá được đông đảo khách trong nước và nước ngoài đến tham quan.

Read More...

Khu du lịch Vườn Xoài - Long Thành, Đồng Nai

Theo xa lộ Hà Nội, ra khỏi TP. Hồ Chí Minh, đến ngã Ba Vũng Tàu, quẹo phải 7km là đến Khu Du lịch sinh thái Vườn Xoài (114, ấp Tân Cang, Phước Tân, Long Thành, Đồng Nai). Và sự bất ngờ ập đến với bạn, càng lúc càng hấp dẫn.
1. Bất ngờ đầu tiên là từ một khu đất hoang 30ha trước kia nay trở thành khu du lịch sinh thái tầm cỡ với một hồ bơi trong xanh uốn lượn rộng 1.500m²; một sân quần vợt đôi có thể tổ chức thi đấu chuyên nghiệp; hệ thống ao hồ rộng 7ha phục vụ thú câu cá tao nhã; thuyền độc mộc; các ngôi nhà gỗ cổ kính, trầm tư…
Đúng nghĩa sinh thái, ở đây có con đường để du khách bát bộ với những hàng tre xanh mát hai bên, một rừng xoài cát xanh rì men theo con suối tự nhiên róc rách quanh năm mà muốn đi hết một vòng, bạn phải thuê xe điện (100.000đ). Đi dạo một quãng, bạn lại lạc vào vườn lan cả trăm loài khoe sắc.
2. Bất ngờ thứ hai là nếu muốn có cảm giác mạnh, bạn có thể tự thuê ngựa cưỡi xuyên qua đồng cỏ mênh mông để đến nô giỡn và chụp hình cùng… gấu. Bạn cũng có thể chơi đùa với hổ (con), xem công, nhím, kỳ đà, trăn, heo rừng và các loài thú tự nhiên khác.
Đến khu vực đầm lầy có 2.000 con cá sấu, tiếng táp mồi và hàm răng sắc nhọn của chúng giúp bạn nếm trải cảm giác châu Úc hoang dã. Hoặc bạn cũng có thể trải nghiệm cảm giác làm “anh Hugo” bằng cách cưỡi trên lưng đà điểu châu Phi, sau đó ăn bánh xèo trứng đà điểu.
3. Bất ngờ nữa là KDL Sinh thái Vườn Xoài chỉ cách TP.HCM hơn 30km nhưng có hình thái địa lý thật lạ lẫm với rừng, sông suối, ao hồ, đồng ruộng và đậm nét dân tộc các vùng miền Việt Nam. Đi chơi mệt, muốn nghỉ trưa hay qua đêm sẽ có phòng khách sạn tiêu chuẩn 3 sao nhưng giá không đắt; ăn cơm đĩa chỉ tốn 10.000 đồng, nhậu đồ rừng (đã thuần hóa, được kiểm lâm cho phép nuôi, nhân giống) với heo, chồn, nhím… nướng dã chiến bằng củi, hay ăn thịt cá sấu hầm tiêu… thật “đã”.
KDL Sinh thái Vườn Xoài còn tổ chức các tour trong ngày cho du khách bao gồm xe máy lạnh đưa đón, chi phí tham quan, vé hồ bơi, cơm trưa (có thịt đà điểu lúc lắc). Nhưng muốn khám phá bất ngờ ở Vườn Xoài, phải điện thoại đặt chỗ trước vì dịp cuối tuần, khách du lịch đến rất đông.
(Nguồn báo SGGP và vnphoto.net)

Read More...

Bình Quới - Thanh Đa, điểm hẹn cuối tuần

Một không gian lãng mạn, thơ mộng dọc sông Sài Gòn, một dãy nhà nghỉ lợp bằng lá dừa, một khoảng không thiên nhiên với gió, cỏ cây và hoa lá,... đó chính là Làng du lịch Bình Quới - TP. Hồ Chí Minh. Với Bình Quới, bạn sẽ chọn được cho mình một góc thư giãn riêng và phù hợp.
Làng du lịch Bình Quới
Đến với làng du lịch Bình Quới, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng vì một thế giới thiên nhiên đầy mầu sắc của hoa lá, cỏ cây. Ngay từ cổng vào, chiếc bảng chỉ dẫn bằng gỗ như lời mời gọi của thiên nhiên, dẫn dắt du khách đến với một điểm du lịch, nghỉ ngơi lý tưởng. Dọc hai bên đường đi vào khu đất chính là những dòng kênh xanh mát với hoa súng, chiếc cầu khỉ, chiếc lu đựng nước. Đó là những nét rất đặc trưng của miền quê Nam Bộ.
Đây như là một miền đất bình an, yên tĩnh, không ồn ào bởi những tiếng xe chạy trên đường. Ở đây, bạn chỉ có thể nghe và thưởng thức những giai điệu du dương của gió, của lá cây và của dòng sông Sài Gòn thơ mộng. Hay thú vị hơn nữa là bạn cùng thử sức kiên nhẫn của mình với chiếc cần câu cá, sau đó thưởng thức những món ăn đặc trưng Nam Bộ ở làng du lịch này.
Ở đây, bạn còn có thể được nghe nhạc Trịnh Công Sơn ở Hội quán, hội ngộ, hay ngồi hóng gió mát ở thác nước và ngắm những bông hoa súng nở. Thú vị hơn, đó là nếu bạn muốn thưởng ngoạn sự thơ mộng của sông Sài Gòn, hãy cùng lên những chiếc thuyền của làng du lịch Bình Quới để tận hưởng điều thú vị này và sau đó có thể về nghỉ ngơi ở những dãy nhà mái lợp lá dừa mát rượi.
Điểm thu hút nhất của làng du lịch Bình Quới là các chương trình ẩm thực, bên cạnh tiệc buffet món ngon miền biển còn có chương trình buffet các món đặc trưng Nam Bộ. Đây là những món ăn mang đậm dư vị của quê hương.
Không chỉ là điểm dừng chân lý tưởng cho các gia đình trong những ngày nghỉ cuối tuần, Làng du lịch Bình Quới còn là điểm để các đôi uyên ương ghi lại những giây phút hạnh phúc bên nhau trong ngày cưới.
Nguồn tin: VTV

Read More...

Một góc Trường Sơn

Hơn 30 năm trước, thế hệ cha anh đến với Trường Sơn bằng đôi chân luồn rừng, bằng xe thồ tải lương chuyển đạn, bằng xe tăng, đầu pháo... Nay chúng tôi đến với Trường Sơn bằng ô tô và xe gắn máy, giữa màu xanh của núi rừng và âm thanh của tiếng chày giã gạo, tiếng thú gọi bầy.

Núi Ngok Lum Heo từ đỉnh đèo Lò Xo

Từ Đà Nẵng, đường 14 vắt ngang huyện Hoà Vang để nối vào địa phận huyện của Quảng Nam. 50km đường đến Thạnh Mỹ. Tới Bến Giằng – Nam Giang, một đàn cò trắng rập rờn chao liệng trên không như một lời chào. Bên kia cây cầu là quốc lộ 14D đi về phía biên giới Việt – Lào và những ngôi làng hoang sơ của người dân tộc Cơ Tu trên dãy Trường Sơn. Sông Giằng mùa cạn nước trơ ra những thảm đá gập ghềnh suốt quãng đường dài hàng chục cây số, như một tín hiệu cảnh báo về một Tây Nguyên dữ dội và rập rình hiểm nguy.

Đường vắng thoảng lại gặp một ngọn thác tung bọt trắng xoá bên đường, xua đi cái nóng rát mặt của miền trung Tây Nguyên.

Đi qua “thị trấn vàng” Khâm Đức nhỏ bé nằm chênh vênh trên cao nguyên đã từng sôi sục vì “cơn lốc vàng” lại thấy lãng mạn và thanh bình. Một phố núi cô liêu, có chút lạnh lùng và trầm lặng.

Rời Khâm Đức, mây đen ở đâu ùa về, mù dâng lên xoá nhoà đường chân trời. Gió hoang hoải chạy trên sườn núi, nơi đám lá rừng Ngok Lum Heo vừa đỏ, vừa vàng, vừa xanh, giống như bức tranh của hoạ sĩ đã lỡ tay làm đổ những hộp màu.

Đến Dăk Glei thuộc Kontum, mới nghe tên đã thấy chất Tây Nguyên rừng xanh núi đỏ dào dạt trong lòng. Thị tứ nhỏ, êm đềm và xinh xắn, giản dị nhưng đầy tình yêu cuộc sống. Đám gà, ngỗng, lợn nghênh ngang đi trên đường quốc lộ. Vài bụi dã quỳ rớt lại đầu đông, vàng óng trong chiều. Góc vườn, cổng rào, mái nhà… nơi tưởng như khô cằn nhất lại là nơi người đất đỏ trồng hoa.

Hoàng hôn trên cửa khẩu Bờ Y

Dọc đường, đồng bào Tây Nguyên đang gom sắn sau một ngày hong nắng. Mùi ngai ngái của sắn bám vào hơi thở. Có bọn trẻ con cần mẫn ngồi cạo sắn nhanh thoăn thoắt bên hiên nhà. Có những người mẹ còng lưng vì nương rẫy, màu da nâu như màu đá núi, không biết nói tiếng Kinh, chỉ biết cười rất hiền với đám lữ khách đường xa.

Thế rồi, cũng đến lúc tạm biệt Dăk Glei, phố núi đầy nắng dưới chân núi Ngọc Linh trên dãy Trường Sơn Nam. Mặt trời chầm chậm ngả về tây. Chạm cửa ngõ Plei Kần, đã nghe gió đưa hương cà phê từ đâu về quấn đầy lên tóc. Những góc rừng cao su mênh mang đang lấn xanh phủ kín đồi đất trọc, dãy Trường Sơn điệp trùng lúc ẩn lúc hiện cuối trời xa.

Plei Kần là thị trấn của huyện Ngọc Hồi, thuộc khu vực ngã ba biên giới Đông Dương (Việt – Lào – Campuchia), một trong hai ngã ba có vị trí địa lý đặc biệt, là giao điểm của ba đường biên giới giữa ba nước trên lãnh thổ

Việt Nam (ngã ba còn lại là ngã ba Việt – Lào – Trung Quốc nằm ở biên giới phía Tây Bắc). Tại điểm xuất phát của quốc lộ 14C, cũng là nơi gặp quốc lộ 14B, quốc lộ 40 theo hướng đông tây dài 20km đưa chúng tôi đến cửa khẩu quốc tế Bờ Y. Hoàng hôn thả mình trên đỉnh núi cao hơn 1.000 mét, nơi ấy có cột mốc ngã ba Đông Dương vừa được khánh thành ngày 18.1.2008.

Một hành trình dài, mới chỉ là một góc của Trường Sơn...

Hoa cà phê

Phơi khoai mì (sắn) ở dăk Glei

Một ngọn thác bên đường Hồ Chí Minh

Theo SGTT

Read More...

Bàu Trúc - Hai chiều thời gian


Con đường quanh co bụi mù hôm xưa vẫn lúc lỉu những cộ bò đôi, lắt lây những bước chân trần. Và gió, u u thổi bay những dải khăn đổ trên trán những lão Chăm Bàlamôn đang dõi mắt về một đỉnh núi nào đó xa lắc trong khi bọn trẻ đang đuổi bầy heo mọi chạy ùn ụt dưới mương nước mát trong…


Di sản làng Bàu Trúc nào chỉ có gốm và nắng. Di sản còn là những ánh mắt truyền đời trong kham khổ vẫn ngưỡng vọng gì đó ở tương lai.
Mười năm trước, cái nôi gốm cổ nhất Đông Dương này xơ xác, bụi bay bợt cả bóng người, thi thoảng trong đám bụi người ta thấy một bà cụ già đội trên đầu ngất ngất mấy lu thạp ra chợ bán. Bước chân trần sột soạt trên rơm rạ và gai góc nghe nhói rát. Cái hình ảnh ấy đẹp và trừu tượng như một triết ca nhưng lại vừa gần đến nỗi đưa tay ra là chạm thấy. Những lu, thạp, nồi niêu gia dụng một thời bế tắc cúi đầu trước sức tấn công “phủ đầu” của công nghiệp nhôm nhựa! Thời ấy, đi khắp từ Bình Dương lên Lâm Đồng, từ Sài Gòn ra Nha Trang, đâu đâu cũng thấy những người đàn bà Chăm uể oải tảo tần với hàng đống hàng ế ẩm còn chất đầy xe tải bên những bãi chợ gió bụi ngờm ngợm mắt người.
Nhưng đó là chuyện của ngày hôm qua. Cái lung linh khổ hạnh cùng những kỷ niệm gieo neo ấy cũng thuộc về quá vãng. Lớp nghệ nhân một thời đội gốm đi hàng vài mươi cây số để ngủ bến xe bãi chợ bây giờ lưng đã còng song song mặt đất, có người không còn trí nhớ để kể cái gian nan hôm qua.


Ký ức làng gốm mười năm với những nhân vật chính có già nua nhưng đã thay tình tiết và cách kể.
Những lớp sinh viên mỹ thuật từ TP.HCM được gởi về đây thực tập đã cứu nghề gốm, làm cho cái nghề thức thời hơn trong bối cảnh gốm gia dụng đang gặp khó khăn (những năm 1995 – 2000). Thời điểm ấy, cậu sinh viên Sỹ Hoàng đến nhà bà Đàng Thị Vệ và sống như con cái trong nhà, anh hướng nghề gốm của bà Vệ ra thị trường với những thiết kế mỹ thuật dùng vào việc trang trí nội thất, ngoại thất. Thời ấy, Nguyễn Văn Tuyên, người Phan Rang, làm designer cũng về chọn làng gốm để thể nghiệm sản phẩm của mình. Gốm mỹ thuật Chăm từ đó cất mình lên khỏi vũng bùn khổ ải. Nhiều người sấp ngửa với nghề truyền thống, suýt bỏ nghề đã kịp quay lại và thấy rằng thì ra chuyện giữ gìn cái nghề gia truyền không hẳn là quá khó trong điều kiện mới.


Khách du lịch vào làng nườm nượp. Ánh mắt cô thiếu nữ Chăm nhìn ông khách ba lô không còn dè dặt. Bàn tay của những phụ nữ Chăm trộn đất bây giờ đã thấy vòng vàng trang sức. Và bước chân những người đàn bà vẫn theo một quỹ đạo vòng tròn quanh khối đất rồi như phù phép, biến đất thành một tác phẩm diệu kỳ. Kỹ thuật sản xuất gốm không bàn xoay cộng với việc nung gốm bằng rơm khô đã khiến cho diện mạo gốm Chăm phong phú về sản phẩm, hoạ tiết. Ngày trước, đất sa khoáng ở sông Dinh, sông Quao còn nhiều, gốm Bàu Trúc luôn ánh lên nhiều óng ánh như được rây vàng trên nền màu hoả biến độc đáo. Ngày nay, đất sa khoáng ít hơn, những mẻ gốm này để dành xuất ngoại.
Gốm Bàu Trúc được phát hiện. Vào làng bây giờ thấy trẻ con đi học nhiều hơn, nụ cười người già vẫn phảng phất những ngày kham khổ hôm qua.


Những shop gốm Bàu Trúc, Đàng Xem, Đàng Thị Tám đến nhà trưng bày triển lãm hiện nay hàng ngày có khách du lịch vào ra đang làm cho mỗi đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở đây ý thức được rằng chúng đang sống mạnh mẽ trên vùng đất di sản. Người ta kể nhiều câu chuyện vui: nghệ nhân làng gốm bây giờ đi khắp thế giới để biểu diễn nghề. Người ta tự hào giới thiệu gốm cho du khách bằng sự hiểu biết và cảm xúc trực tiếp của một người làm ra và hiểu “tâm tính” của gốm.
Và với bạn, một du khách, còn chần chờ gì không chọn lấy một vài món hàng cho vào ba lô trong một lần ghé qua sau khi tắm trong không gian văn hoá ở cái nôi gốm cổ nhất Đông Dương này.

Read More...

Hoàng hôn trên phá Tam Giang

Lần này trở lại, tôi đã có thêm một cảm giác mới với Huế, không hề định trước, tôi đến Tam Giang, nghe mùi gió biển mằn mặn, ngồi trên thuyền phóng tầm mắt ra mãi xa chỉ thấy hoàng hôn lặn dần trên phá

4 giờ chiều từ Huế, tôi ngồi sau lưng người bạn trên chiếc xe gắn máy cọc cạch mới thuê, theo đường Huỳnh Thúc Kháng ra phố cổ Bao Vinh. Đi qua một đoạn phố cổ toen hoen phía bắc thành Huế này, tôi lại nhớ “gánh bún bò chị Niệm” của mạ chú bé Mừng trong Tuổi thơ dữ dội, nhớ những chi tiết về cái xóm ngoại ô nghèo khổ đó, nhớ cả những lúc còn bé khóc sướt mướt mỗi khi đọc truyện này... Từ Bao Vinh, rẽ trái đi chừng chục cây số về thị trấn Sịa là chúng tôi ra tới bến đò Vĩnh Tu.

Theo những người dân ở đây, chúng tôi cũng chất xe máy lên thuyền, ngồi trên thành giữa hàng đống đồ đạc, xe cộ. Thuyền nổ máy và lao ra giữa phá. Gió thốc lồng lộng vào mặt. Mùi tanh nồng, vị mằn mặn lờ lợ của nước phả vào giữa mặt.

Qua đến bờ bên kia đã chừng 5 giờ. Hoàng hôn ở vùng đầm phá ven biển này chừng như kéo dài hơn ở những nơi khác. 5 giờ, trời hãy còn rất sáng. Chúng tôi vứt xe máy trên bờ ruộng, lội nước đi thăm thú. Chiều xuống, mọi lối đi ra phá đều vắng hoe, không có ai để hỏi thăm đường. Đi loăng quăng một lúc thì chúng tôi nhìn thấy một ngư dân đội nón đang ngồi vá lưới. Hỏi thì bác bảo giờ này không còn thuyền để đi thăm phá nữa đâu. Ngồi uống trà nói chuyện với bác một hồi, bác chủ động lấy chiếc ghe nhỏ chở chúng tôi đi thăm phá. Chiều muộn, ghe nhỏ, bác lái đò lại già, chúng tôi đi gần gần không dám ra xa. Hoàng hôn xuống đỏ lịm cả một góc trời. Những con chim bói cá lông xanh ở đâu thỉnh thoảng chúi xuống đớp mồi. Chúng tôi ngồi trên ghe trôi mơn man trên khắp khu đầm phá. Mặt trời đậu trên những cột tre, tiếng người đi đánh cá về gọi nhau râm ran râm ran...

Bác lái nói ở lại phá đêm nay đi, sáng mai dậy sớm ghe cá về tha hồ ăn mực, tôm đất, tôm bạc, cá chình, cá lệt... tươi roi rói. Người ta bảo, khắp vùng biển nước Nam này, không có nơi nào cá ngon và thơm như cá ở Tam Giang... Thế mà, vì không có thời gian, chúng tôi đành phải quay lại Huế và hẹn một ngày quay lại phá Tam Giang, để ngủ đêm trên phá, nghe mùi gió biển mơn man chạm vào cơ thể, để đi theo ghe đánh cá trên khắp vùng đầm phá rộng lớn, để nếm vị hải sản tươi giòn của vùng đất hiền hoà này...

Phá Tam Giang là một phá nằm trong hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Diện tích phá Tam Giang khoảng 52km², trải dài khoảng 24km theo hướng tây tây bắc - đông đông nam từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương, thuộc địa phận ba huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà tỉnh Thừa Thiên - Huế. Phá Tam Giang chiếm khoảng 11% diện tích đầm phá ven bờ của Việt Na

Theo SGTT

Read More...

Về sông Đốc - Cà Mau

Sông Đốc là một phố biển đẹp. Một bên là sông Ông Đốc và một bên là biển tây, thuộc huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Được thiên nhiên ưu đãi, Sông Đốc nằm giữa những vùng kế cận: hòn Đá Bạc, cửa biển Cái Đôi Vàm và ngoài khơi là đảo Hòn Chuối. Chính vị trí này đã làm nổi rõ vai trò của Sông Đốc trong khu vực, đó là nơi đón tiếp, phục vụ, trung chuyển hàng hóa, khách du lịch... Không chỉ là tâm điểm của 3 địa điểm trên, Sông Đốc còn có nhiều làng nghề biển như làng nghề đan lưới, làng nghề làm cá khô và nhiều di tích chùa chiền… Du khách khó có thể quên được Sông Đốc sau khi đã đến thăm thị trấn miền biển giàu tiềm năng này.

Sông Đốc có lễ hội Nghinh Ông, còn gọi là lễ rước “Đại tướng quân Nam Hải” được tổ chức vào ngày rằm tháng hai hằng năm. Đảo Hòn Chuối cách đất liền 16 hải lý, có một chi tiết khá thú vị của người dân Hòn Chuối, đó là sống theo mùa. Gió nồm thì di cư qua bãi Bắc, còn gió bắc thì trở ngược lại bãi Nồm. Hòn Chuối không rộng lắm, nhưng có một chiến lược quan trọng đối với lĩnh vực quốc phòng và cũng là một bình phong chắn sóng cho người dân Sông Đốc. Đứng trước cửa biển Sông Đốc vào buổi chiều, du khách sẽ có cảm giác thú vị khi chìm đắm trong sự bình yên khi hoàng hôn buông xuống.

Nói đến thị trấn miền biển này, không thể không nhắc đến dự án quy hoạch Sông Đốc thành thị xã biển đầu tiên ở Cà Mau.

Dòng sông Ông Đốc sâu, rộng không chỉ tạo thuận lợi cho giao thông vận tải, du lịch, mà còn là một trong những bến cảng có tàu thuyền ra vào đông nhất ở ĐBSCL.

Năm nay, hưởng ứng Năm du lịch quốc gia Mekong - Cần Thơ 2008, tỉnh Cà Mau đã lấy lễ hội Nghinh Ông ở Sông Đốc làm sự kiện du lịch của tỉnh, tạo dựng Sông Đốc trở thành điểm đến hấp dẫn của tỉnh Cà Mau.

Theo SGTT

Read More...